Đoàn nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang 50 năm xây dựng và trưởng thành

Đoàn Nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang tiền thân là Đoàn nghệ thuật Chèo Sông Thương, được thành lập từ tháng 6 năm 1959. Năm mươi năm qua, dù phải trải qua bao thăng trầm gian nan vất vả, Đoàn vẫn vững vàng vượt khó đi lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tin yêu giao phó, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước, vào sự nghiệp bảo tồn và phát triển bộ môn nghệ thuật Chèo truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc.

Khi mới thành lập, Đoàn đã mời các nghệ nhân Nhà hát Chèo Trung ương về truyền dạy, rồi được bổ sung diễn viên, nhạc công có kiến thức cơ bản để dàn dựng những vở chèo ngắn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, cổ vũ thi đua lao động sản xuất, bài trừ tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu của chế độ cũ. Đó là các vở: “Hương lúa tình quê”, “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”, “Mối tình Điện Biên”, “Tiến lên phía trước”, “Cho đẹp quê ta”… Những năm tiếp theo, Đoàn dàn dựng những vở chèo truyền thống dài như: “Suý Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”. Việc dàn dựng và biểu diễn thành công các vở diễn lớn đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng của Đoàn trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện hoạt động. Hành trang vào nghề của Đoàn lúc bấy giờ còn rất thô sơ, nghèo nàn (4 chiến xe ba gác, 4 chiếc đèn măngxông, không có tăng âm tiếng nói, phông màn được may bằng vải thô, một số phục trang cũ được dùng cho nhiều vở diễn), chế độ bồi dưỡng biểu diễn cho diễn viên, nhạc công, kỹ thuật không có. Vậy mà nghệ sĩ vẫn nhiệt tình, say đắm với nghề, ánh đèn măngxông vẫn luôn rực sáng, tiếng trống chèo vẫn rộn rã khắp các làng quê từ vùng cao Sơn Động đến các nông-lâm trường Lục Nam, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà… Nhiều nơi, do đường đèo nhỏ xe cải tiến không đi được, lãnh đạo đoàn và các nghệ sĩ lại phải khiêng vác đạo cụ, cảnh trí, xoong nồi cấp dưỡng vào điểm diễn để tổ chức phục vụ nhân dân.

Chương trình biểu diễn của Đoàn trong giai đoạn này, ngoài những vở chèo dài còn có những ca cảnh, những bài hát mới, dân ca quan họ, những điệu múa dân gian để phục vụ nhu cầu đa dạng của khán giả. Năm 1962, tại Hội diễn tổng hợp 9 tỉnh được tổ chức tại Thường Tín (Hà Tây), Đoàn đã tham dự với hai vở chèo “Tiến lên phía trước” (tác giả Minh Châu, đạo diễn Bá Lưu) và “Ba anh em họ Điềm” (tác giả Lê Dân, đạo diễn Nguyễn Vinh). Cả hai vở đều được Hội diễn đánh giá khá cao về nội dung và chất lượng nghệ thuật.

Năm 1963, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, hai đoàn nghệ thuật Chèo của hai tỉnh được sáp nhập và đổi tên thành Đoàn nghệ thuật Chèo Hà Bắc.
Lúc này, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đang bước vào giai đoạn gay go ác liệt. Thi hành chỉ thị của UBND tỉnh và Ty Văn hoá-Thông tin, Đoàn đã phải đi sơ tán ở nhiều nơi, chia thành nhiều tốp xung kích với những tiết mục ngắn gọn, nhanh chóng có mặt ở những nơi giặc Mỹ đánh phá để biểu diễn động viên, cổ vũ cho tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân. Tiếng hát chèo của quê hương Bắc Giang lại cất lên giữa làn mưa bom bão đạn, động viên các chiến sĩ vững thêm tay súng, làm dịu bớt nỗi đau mất mát hy sinh. “Tiếng hát át tiếng bom” của các nghệ sĩ đã hoà cùng phong trào thi đua trong cả nước, thể hiện niềm tin vào chiến thắng, vào tương lai tươi sáng của cả dân tộc.
Đêm biểu diễn, ngày lao động làm cỏ, gặt lúa giúp dân, các nghệ sĩ đi đến đâu cũng được dân nhớ, dân thương. Nhiều nghệ sĩ của đoàn được nhân dân ghi nhớ cho tới bây giờ, như: Văn Thành, Huy Bái, Văm Thơm, Đăng Nhật, Diễm Loan, Dương Lễ, Lê Phan, Hữu Luận, Thuý Tình, Thu Hiền, Thuý Lan, Văn Khách, Thanh Hải, Khánh Tuyên…
Chương trình biểu diễn của Đoàn trong thời kỳ này là các vở diễn: “Nguyễn Văn Bé”, “Cô gái Long Châu Sa”, “Tình quân dân”, “Làng Thương”, “Cai Tranh đốt quán”, “Trên đồi pháo”… cùng với những ca khúc, điệu múa phù hợp với nhịp độ sôi động vừa chiến đấu vừa sản xuất của nhân dân. Bên cạnh những tiết mục ngắn, Đoàn còn dàn dựng những vở diễn dài như: “Tiếng hát làng Pơ Rao”, “Lứa tuổi xuân”, “Dòng phù sa”, “Tấm Cám”…
Năm 1970, tuy chiến tranh vẫn ác liệt nhưng Đoàn vẫn dàn dựng tiết mục để phục vụ nhân dân và tham gia hội diễn tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh) vở: “Tiếng làng PơRao” (tác giả Ngô Quang Thắng; Nguyễn Hữu Luận chuyển thể và đạo diễn). Vở diễn đã gây xúc động, chiếm được tình cảm của người xem.
Năm 1971, theo tiếng gọi của tiền tuyến, tỉnh Hà Bắc đã thành lập Đội văn công xung kích vào chiến trường phục vụ các chiến sĩ. Nhiều nghệ sĩ của đoàn, như Lê Phan, Hữu Luận, Khánh Tuyên, Hoàng Linh, Minh Chính, Hồng Thắm… đã xung phong vào Đội, lên đường ra tiền tuyến. Các anh, các chị đã vượt bom đạn, mang tiếng hát, mang nghĩa tình sâu nặng của quê hương Bắc Giang tới nơi chiến trường rực lửa để động viên các chiến sĩ. Kết thúc đợt diễn, Đội Văn công xung kích đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, được Bộ Tư lệnh chiến trường 559 và UBND tỉnh Hà Bắc tặng Bằng khen. Và trong những năm hào hùng ấy, nhiều cán bộ, nghệ sĩ của Đoàn đã xung phong lên đường nhập ngũ. Có những đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khói lửa. Các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu lại trở về tiếp tục mang tài năng nghệ thuật của mình chung lòng xây dựng đoàn ngày một trưởng thành.
Thời kỳ 1975-1990, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đoàn Chèo Hà Bắc bước vào tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, dàn dựng nhiều vở diễn cổ vũ cho công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, như: “Dòng phù sa”, “Chàng rể bố vợ”, “Những người nói thật”…
Năm 1980, tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, Đoàn Nghệ thuật Chèo Hà Bắc lại gây được sự chú ý của ngành chèo và sự yêu mến của khán giả thủ đô Hà Nội bằng vở diễn “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” (tác giả Đào Thiệm, đạo diễn Trần Bảng). Đoàn đã biểu diễn tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, diễn ba đêm liền tại Nhà hát lớn thành phố, báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo Bộ Văn hoá, Hội sân khấu Việt Nam và nhiều đêm diễn liên tục tại các rạp hát Thủ đô, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh phòng không không quân và nhiều đơn vị khác.
Cùng với vở “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ”, Đoàn đã dựng vở “Nguyên Phi Ỷ Lan”, “Học sỹ Nguyễn Cao”, “Ngọn cờ đại nghĩa”, “Tiếng hát đưa nôi”, “Hoàng tử Pôn Na Vông”, “Những người nói thật”, “Những đứa con oan nghiệt”… Ở mỗi vở có sự thành công khác nhau, nhưng tất cả đều bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Nhà nước và địa phương, đó là: giáo dục tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi những tấm gương anh hùng cách mạng, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ca ngợi tình đoàn kết gắn bó thuỷ chung “Vừa là đồng chí, vừa là anh em” của các dân tộc Đông Dương; ca ngợi những con người dám nghĩ, dám làm đưa quê hương ngày thêm giầu đẹp; đồng thời phê phán mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu làm ảnh hưởng đến bước tiến chung của toàn xã hội.
Năm 1988, Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh), Đoàn đã tham dự với vở “Oan trái làng Tằm”, tác giả Xuân Hồng- Trần Minh, đạo diễn Ngọc Phương, biên đạo múa NSND Trần Minh.
Từ năm 1988 đến năm 1995 là thời kỳ đã để lại ấn tượng sâu sắc, khó quên trong cuộc đời làm nghề của các nghệ sĩ tỉnh Hà Bắc. Thời kỳ đầu, do chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường nên các đoàn nghệ thuật đều gặp khó khăn, bế tắc. Tỉnh Hà Bắc có bốn đoàn nghệ thuật (đoàn Nghệ thuật Tuồng, đoàn Chèo, đoàn Kịch nói, đoàn Dân ca Quan họ) hầu như đều phải ngừng hoạt động.
Đứng trước thực trạng đó, Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao đã có đề án củng cố xếp sắp lại bộ máy tổ chức của các đoàn nghệ thuật, trình UBND tỉnh ra Quyết định tinh giảm biên chế, từ bốn đoàn chỉ để lại hai đoàn (Đoàn Nghệ thuật Chèo và Đoàn Dân ca Quan họ).
Ba đơn vị Kịch, Tuồng, Chèo được hợp nhất thành Đoàn nghệ thuật Chèo, trong đó nòng cốt là cán bộ diễn viên của Đoàn nghệ thuật Chèo. Từ 130 cán bộ nhân viên của ba đơn vị và đội xe máy phải giảm biên chế chỉ còn 31 người. Một số diễn viên xuất sắc của đoàn Tuồng, đoàn Kịch nay chuyển sang làm diễn viên Chèo quả là một khó khăn.
Sau khi củng cố tổ chức, Đoàn đã nhanh chóng tổ chức tập huấn chuyên môn và bắt tay dàn dựng lại các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chinh phụ hai chồng” và “Đôi ngọc lưu ly”. Cuối năm 1993, Đoàn đã thành lập một đội gồm 16 cán bộ, diễn viên, nhạc công vào biểu diễn phục vụ cán bộ và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh…
Cũng trong giai đoạn này, Đoàn đã xây dựng chương trình tham dự thi Tiếng hát Chèo hay toàn quốc (1992) tại Hải Dương và tham dự thi các trích đoạn chèo, tuồng hay toàn quốc (1993) tại Ninh Bình. Cả hai cuộc thi, Đoàn đều đoạt được những thành tích cao với 6 Huy chương vàng, 5 Huy chương bạc và được Bộ VHTT tặng Bằng khen, trong đó có cả những diễn viên chèo mới cũng được Huy chương bạc.
Năm 1992, 1993 Đoàn được tặng Bằng khen của Bộ VHTT, Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam, UBND tỉnh Hà Bắc, UBND tỉnh Tây Ninh.
Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Đoàn được đổi tên là Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Bắc Giang.
Ý thức được đầy đủ vinh dự và trách nhiệm lớn lao của mình, Ban lãnh đạo đoàn đã nhanh chóng xây dựng đề án Đoàn vẫn tiếp tục định hướng kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, khai thác đề tài lịch sử viết về những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá của địa phương, phát huy thế mạnh của mảng chèo dân gian, bên cạnh đó vẫn dàn dựng những đề tài hiện đại làm cho chương trình nghệ thuật của đoàn thêm đa dạng, phong phú phục vụ được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mọi tầng lớp khán giả. Từ quan điểm chỉ đạo trên, những năm gần đây dàn kịch mục của đoàn đã có nhiều vở diễn được công chúng mến mộ như: “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Phò mã Thân Cảnh Phúc”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Lời ru hai người mẹ”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chuyện tình sau chiến tranh”, “Nước mắt tuổi thơ”, “Gươm báu truyền ngôi”… Bên cạnh những vở dài, hàng năm Đoàn còn dựng một số các trích đoạn chèo ngắn, chương trình ca nhạc dân gian để phục vụ khán giả, phục vụ các chương trình giao lưu nghệ thuật, phục vụ các đoàn khách Trung ương, tỉnh bạn về thăm và làm việc với Bắc Giang.
Điều đáng mừng là bên cạnh lớp diễn viên thế hệ đi trước đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT như Hồng Tính, Trần Thông, Thanh Nhàn, Hương Quế, và các nghệ sỹ xuất sắc như Xuân Hậu, Thanh Hải… Đoàn có một dàn diễn viên trẻ như Mạnh Lẫm, Quỳnh Mai, Thanh Hường, Anh Tuấn, Lệ Xuân, Đình Hưng, Hoàng Chung, Anh Quân, và những nhạc công như Tiến Mạnh, Văn Tuyên… đã nhanh chóng trưởng thành, đạt được nhiều thành tích cao trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao.
Năm 2001, tại Liên hoan Sân khấu chèo truyền thống tổ chức tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), dàn diễn viên trẻ của đoàn đã gây được ấn tượng tốt đẹp trước toàn thể bạn nghề của làng Chèo cả nước và của Ban Giám khảo hội diễn qua vở “Suý Vân”. Nghệ sỹ trẻ Quỳnh Mai đã được tặng hai giải thưởng, 01 Huy chương vàng và giải Nghệ sỹ múa đẹp nhất.
Năm 2002, tại Hội thi “Hát Dân ca” các tỉnh Trung du đồng bằng Bắc Bộ do Bộ VHTT tổ chức, một lần nữa các nghệ sỹ trẻ lại khẳng định được tài năng của mình, với 05 tiết mục dự thi Đoàn đã được Ban Giám khảo tặng thưởng 1 Huy chương vàng toàn đoàn, 3 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc tiết mục.
Năm 2003, với đội hình hơn 40 cán bộ nghệ sỹ, Đoàn đã tổ chức đợt biểu diễn dài ngày với gần 30 đêm diễn trên địa bàn các tỉnh phía Nam, như Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kom Tum-Đắc Lắc và một số các đơn vị lực lượng vũ trang. Chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại những ấn tượng sâu sắc khó quên với cán bộ và nhân dân những nơi đoàn lưu diễn.
Từ năm 1999 đến 2009, năm nào đoàn cũng thực hiện được từ 140 đến 150 đêm diễn trở lên, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Với gần 100 vở diễn, 70 Huy chương vàng, bạc của tập thể và cá nhân trong các kỳ hội diễn từ những năm 1980 trở lại đây, Đoàn đã đươc tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL, UBND tỉnh về thành tích công tác. Năm 2004, Đoàn vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2009 Đoàn vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.
Kế thừa truyền thống 50 năm đầy vẻ vang, tập thể và lãnh đạo, nghệ sỹ đoàn Nghệ thuật Chèo Bắc Giang tâm nguyện sẽ phấn đấu không ngừng, coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân, khuyến khích các tài năng, sáng tạo nhiều vở diễn có giá trị tư tưởng lành mạnh, tính nhân văn sâu sắc và giá trị nghệ thuật cao, quyết tâm xây dựng đoàn Nghệ thuật (Chèo, Ca múa nhạc) Bắc Giang thành.
Ngô văn Trụ – Trần Thông