Chiếu chèo Hà Nam trong hành trình đổi mới

a61

Phòng khán giả buổi dự thi thứ 18/19 của Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tháng 12/2009 tại Cung Văn hóa Việt Nhật (thành phố Hạ Long) như bừng lên, tiếng vỗ tay tưởng chừng như không muốn dứt. Theo cách nói chuyên môn thì các nghệ sĩ đã có một buổi biểu diễn “xuất thần” vở Đợi đến mùa xuân (tác giả cố nhà văn Xuân Trình, chuyển thể Trần Đình Văn, đạo diễn Vũ Ngọc Minh) trước bạn bè đồng nghiệp và khán giả Quảng Ninh…

Lời ca cất lên sao ngọt ngào da diết:
Chỉ tâm nguyện một đời vì những em thơ
Mà phải chịu trăm ngàn cay đắng
Nuốt dòng lệ trong tim thầm lặng
Tôi phải một mình vượt những chông gai…
(hát sử rầu)
Cả một rừng hoa tươi thắm đã giành cho những nghệ sĩ chèo Hà Nam…
Đồng nghiệp cảm động trước sự trưởng thành nhanh chóng về nghề nghiệp của một đoàn nghệ thuật. Còn những nghệ sĩ, diễn viên Hà Nam nước mắt như chực trào ra vì những thành quả, những cố gắng âm thầm của mình cuối cùng cũng đã được bạn bè đồng nghiệp biết đến… mới biết người nghệ sĩ cần sự tri âm da diết thế nào…

Cách Hà Nội hơn 50km, là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, phía Đông giáp Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình, tỉnh Hà Nam theo cách nói của cố giáo sư Trần Quốc Vượng là một địa phương nằm trong vùng “ tứ giác nước” đồng bằng châu thổ sông Hồng – một trong những cái nôi lớn nhất của nghệ thuật chèo cả nước.
Tiền thân của đoàn là Đoàn chèo Hà Nam được thành lập từ 1958. Mười năm sau, 1968 được sát nhập với Đoàn chèo Nam Định thành Đoàn chèo Nam Hà, rồi Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Những thành tựu huy hoàng của đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận xứng đáng bằng các tấm Huân chương, Huy chương…
Tuy nhiên, hành trình đổi mới của Đoàn chèo Hà Nam được đánh dấu bằng sự kiện tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam (tháng 1 năm 1997). Ba tháng sau, tức tháng 4 năm 1997, Đoàn chèo Hà Nam có quyết định tái thành lập, với chức năng và nhiêm vụ hoạt động trên lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, xây dựng các chương trình, tiết mục nghệ thuật sân khấu đậm đà bản sắc dân tộc, biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân địa phương. Khai thác, phát huy nghệ thuật chèo truyền thống và các làn điệu dân ca của tỉnh…
Khi dó toàn đoàn chỉ có vẻn vẹn mười hai con người (cả nghệ sĩ, diễn viên nhạc công, hậu đài, bảo vệ)… trên đủ các lĩnh vực cải lương, ca múa, kịch nói, chèo, được tập hợp dưới sự chỉ đạo của NSUT Lương Duyên và với một cơ sở vật chất quá nghèo nàn… Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng ngay từ đầu, ban lãnh đạo đoàn và anh em đã quyết tâm cùng nhau từng bước xây dựng đoàn. Việc đầu tiên phải nghĩ ngay đến là công tác chuyên môn. Mang danh một đoàn chèo ở một chiếng chèo Nam có tiếng từ thưở xa xưa, vậy mà nòng cốt của đoàn khi mới tái lập chỉ có ba người đã từng là diễn viên chèo: Lương Duyên, Huy Toàn, Tuyết Lan. Các diễn viên khác chỉ hoặc là biết diễn kịch, hoặc là hát mới, hoặc là biết ca cải lương và chưa từng biết hát chèo, diễn chèo. Lớp “tập huấn” hát chèo, múa chèo, diễn chèo được thực hiện song song cùng với việc xây dựng các tiết mục biểu diễn , mà “thầy cô” thị phạm chính là ba nghệ sĩ chèo duy nhất của đoàn; muốn mời các thầy cô trên Trung ương về lắm, nhưng đoàn không có kinh phi chi trả nên không dám “mở lời”. Cả người học lẫn người dạy cứ âm thầm miệt mài như thế…
Nhưng cái khó bó cái khôn, rồi những diễn viên biết nghề chút ít lại không cánh mà bay: sau 5 năm, nghệ sĩ Huy Toàn lên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh làm giảng viên, một số diễn viên trẻ “bay mất”sang đoàn chèo Tổng cục Hậu Cần và đoàn chèo Ninh Bình. Họ đi tuy lòng nặng trĩu nghĩa tình, nhưng vì cuộc sống “rất thực” và vì những ước vọng riêng, họ vẫn cứ phải ra đi. Những người ở lại, phải gồng sức để tìm cách lấp đầy khoảng trống đó…
Chính lòng yêu nghề, sự quyết tâm vượt lên mọi gian khổ vật chất của các nghệ sĩ Hà Nam đã khiến các “thầy chèo” cảm động và họ đã tập hợp được một đội ngũ cộng tác viên sáng giá nhất của làng chèo, các tác giả: Trần Đình Ngôn, Hoài Giao, An Viết Đàm, Lương Tử Đức…; các đạo diễn: NSUT Lê Huệ, NSND Bùi Đắc Sừ, NSUT Hải Thọ, Vũ Ngọc Minh…; các nhạc sĩ: NSUT Hanh Nhân, NSUT Đăng Toàn…; và các họa sĩ: NSUT Dân Quốc, NSUT Bùi Vũ Minh, Hồng Long… Các đạo diễn, nghệ sĩ đã giúp bằng cả tài năng và tấm lòng của những tâm hồn cao khiết vì nghề chèo, vì chiếu chèo Hà Nam.
Bên cạnh nhiều chương trình nghệ thuật tổng hợp phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, ngày lễ của quê hương, đất nước; phục vụ các sở, ban ngành trong tỉnh Hà Nam, dàn kịch mục của đoàn cho đến nay đã khá phong phú, với các đề tài khác nhau.
Bên cạnh những vở diễn mang đề tài danh nhân truyền thống, lịch sử quê hương như: Bài thơ treo dải yếm đào, Tiếng trống bồ đề; Vua đi cày; Tỉnh rượu lúc tàn canh; Bùi Viên cư sĩ… còn phải kể đến các vở chèo truyền thống như: Lưu Bình Dương Lễ; Súy Vân; hoặc các vở đề tài dân gian, hiện đại: Dòng suối cội nguồn; Người nhà quê; Cõi thế đa đoan; Hoa đồng nội và Đợi đến mùa xuân… Với một phong cách biểu diễn giản dị, nhưng lãng mạn, hiện thực mà tinh tế, với những giọng hát chèo ngọt ngào, đằm thắm, vở diễn nào của đoàn cũng được khán giả chào đón nồng nhiệt. Chương trình ca hát dân gian của đoàn cũng đã được dàn dựng khá công phu do chính Trưởng đoàn chỉ đạo nghệ thuật NSUT Lương Duyên dàn dựng với các tiết mục hát dân ca thấm đẫm chất trữ tình, hát chầu văn; cả nhiều giá hát chầu-đặc sản của Hà Nam cũng đã được khai thác, đưa thành những tiết mục biểu diễn ngợi ca tình yêu, khát khao chung thủy, hướng tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống.
Gần 13 năm xây dựng và trưởng thành là cả một quá trình vượt khó đi lên của đoàn chèo Hà Nam. Và để có được những thành tích ấy, trước hết vẫn là tinh thần đoàn kết thống nhất của toàn thể anh chị em nghệ sĩ, nhạc công và cán bộ công nhân viên của đoàn. Ngoài những nghệ sĩ “nòng cốt” của đoàn như :Tuyết Lan, Mạnh Hùng, Trang Nhung, Việt Dũng… không thể không nói đến vai trò lãnh đạo của NSUT Lương Duyên, chị có thể vừa chỉ đạo nghệ thuật, vừa dàn dựng chương trình ca hát, lại vừa là diễn viên hát chính, diễn viên đóng vai chính, rồi cũng chính chị là người đi kí hợp đồng bán vé… không nề hà bất cứ một công việc gì, miễn là có ich lợi cho nghệ thuật, cho đoàn chèo mà chị luôn coi là ngôi nhà thứ 2 của chính mình. Ấy vậy mà ở tuổi ngoài 50 nom Lương Duyên vẫn rất trẻ, trên sân khấu vẫn thấy một Lương Duyên xinh đẹp, đầy lửa với một giọng hát chèo vàng. Chị được bạn nghề ví như một “mụ phù thủy đáng yêu”.
Những năm gần đây, được sự quan tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Hà Nam, đoàn đã có một trụ sở làm việc khá khang trang gồm 2 tầng, tầng 1 là trụ sở làm việc, tầng 2 là sàn tập của diễn viên, nhạc công đồng thời cũng là nơi biểu diễn chiếu chèo Hà Nam.
Dù cho đến hôm nay, đội ngũ của đoàn cũng mới chỉ có 27 biên chế, 7 hợp đồng và một lớp học sinh trung cấp gồm 20 em. Dù cho kinh phí hoạt động nghệ thuật của đoàn vẫn còn quá eo hẹp, nếu không muốn nói là kém nhất so với các đoàn chèo cả nước, thì những nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn kiên định một quyết tâm ngay từ buổi tái thành lập đoàn là xây dựng một Đoàn chèo Hà Nam với một hương sắc riêng, với truyền thống và hiện đại xứng đáng với một vùng đất văn hiến có bề dày văn hoá, giầu cảnh quan trữ tình, giàu trầm tich lịch sử, quê hương của Nam Cao, của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến…
Cuộc thi tài đã khép lại, mà dư âm những lời ca của rnhững nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn như còn vang mãi trong trái tim khán giả:
Khi mây mờ còn che phủ trời xanh
Ta phải biết tin vào bình minh phía trước
Khi ta gieo một mầm xanh xuống đất
Có thể mùa đông giá rét, nó không sao nẩy lộc đâm chồi
Nhưng đến mùa xuân ấm áp ánh mặt trời
Mầm xanh ấy sẽ vươn mình đứng dậy…
Đợi một ngày nắng mới bừng lên…

Nhân dân cuối tuần ngày 29.1.2010