Sân khấu Chèo làm mới từ nét xưa

VHO- Đêm diễn ra mắt vở Cánh diều lạc gió của Nhà hát Chèo Việt Nam đã khiến nhiều vị khán giả rưng rưng xúc động, bởi câu chuyện của những nhân vật thời phong kiến nhưng vẫn hiển hiện nóng hổi trong đời sống hôm nay. Ai cũng sẽ nhìn thấy đâu đó quanh mình những cô gái trẻ vì “tham vàng bỏ ngãi”, vì những toan tính vụ lợi mà bỏ rơi người đàn ông chân tình giống như nhân vật trung tâm của vở diễn.

Cánh diều lạc gió do PGS Tất Thắng viết kịch bản văn học, chuyển thể chèo: Hồng Mặc Cát; Đạo diễn: NSƯT Đoàn Vinh. Câu chuyện kể về nàng Kim Thảo, sinh ra trong một gia đình gia giáo, bố là thầy đồ dạy chữ. Nàng đã có lời ước hẹn kết duyên với chàng thư sinh ở quê nhà. Thế nhưng, trong một chuyến vi hành của nhà vua, Kim Thảo đã lọt vào mắt xanh của ngài và được phong làm Thứ phi. Không mấy tiếc nuối cho mối tình với chàng thư sinh nghèo, Kim Thảo nhanh chóng rời bỏ gia đình lên triều đình để tận hưởng vinh hoa, phú quý. Khi cha mất, Kim Thảo cũng chẳng buồn về quê chịu tang. Vì vậy, nàng bị mang tiếng bất hiếu, bị phế và phải đi tu. Diễn biến và các tình tiết trong vở chèo không hề mới, thậm chí khán giả có thể đoán ngay được cái kết của vở, nhưng ê kíp sáng tạo đã khéo kết hợp những ưu thế nổi trội của nghệ thuật chèo truyền thống như tạo trò, đưa những làn điệu cổ đặc sắc để tạo sức hấp dẫn với khán giả. Người nghệ sĩ đã thổi hồn vào mỗi nhân vật để tạo nên những hình mẫu điển hình trong xã hội. Nếu làm phép đối chiếu thì rõ ràng những nhân vật xưa ấy vẫn không hiếm gặp trong đời sống hôm nay.

Cánh Diều (1 of 1)-7“Tôi rất tâm đắc với vấn đề mà kịch bản Cánh diều lạc gió của PGS Tất Thắng đưa ra, khi một bộ phận những người trẻ đang có suy nghĩ lệch lạc trong việc định hướng tương lai cho mình. Ngay cả những thanh niên ở nhiều gia đình gia giáo, được nuôi dạy, ăn học bài bản nhưng cũng có những quan điểm sống rất thực dụng, toan tính ngay cả trong chuyện tình cảm, hôn nhân giống như nhân vật trong vở. Họ sẵn sàng vượt qua mọi chuẩn mực đạo đức, bỏ rơi những mối tình đang có để đánh đổi, thậm chí là đánh mất mình trong những cuộc hôn nhân vụ lợi…”, đạo diễn Đoàn Vinh chia sẻ về ý tưởng dàn dựng. Có thể thấy, Cánh diều lạc gió như một lời cảnh báo rằng, hôn nhân không tình yêu, xuất phát bởi sự toan tính sẽ dẫn đến cái kết bi thương giống như nhân vật Kim Thảo trong vở chèo.

NSƯT Đỗ Kỷ, Quyền trưởng phòng nghệ thuật Cục Nghệ thuật biểu diễn nhận định: “Tôi thấy quy trình dàn dựng của Nhà hát Chèo Việt Nam rất chuyên nghiệp, từ khâu kịch bản văn học chuyển thể sang chèo cho tới cách dàn dựng và diễn xuất. Có thể khẳng định rằng, Nhà hát luôn xứng với danh hiệu là “cánh chim đầu đàn” trong làng chèo cả nước”.

Cánh Diều (1 of 1)-10Mặc dù tuổi đã cao nhưng khi được Bộ VHTTDL mời tới xem vở diễn với vai trò là thành viên của Hội đồng nghệ thuật, TS Trần Đình Ngôn phấn khởi cho biết: “Trước hết, tôi rất vui vì được xem một vở chèo 100% là chèo “xịn”, chứ không “gieo vừng ra ngô” như một số vở gần đây. Từ tích trò, cấu trúc, diễn biến cho tới phương pháp xây dựng tính cách nhân vật, xử lý hành động trên sân khấu đều tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật chèo truyền thống. Đặc biệt là các mâu thuẫn trong vở được tổ chức theo dòng tự sự, bám sát đường dây số phận của nhân vật. Hậu quả của nhân vật chính được quyết định bởi tính cách và mong muốn của cô ấy”. Tác giả Trần Đình Ngôn cũng tỏ ra vui mừng khi nhận xét về tác giả chuyển thể chèo Hồng Mặc Cát. Ông khẳng định, qua Cánh diều lạc gió, ngành chèo đã có thêm một cây viết rất “chắc tay”, đó là lý do mà khán giả được đắm mình trong những làn điệu chèo cổ tuyệt vời như: Tò vò, Luyện năm cung, Tòng nhất nhi chung… Điều thú vị là đạo diễn và tác giả chuyển thể đã mạnh dạn đưa những làn điệu vốn chỉ dành cho vai đào thương như Chức cẩm hồ văn cho vai nữ tính cách Kim Thảo; cách xử lý này đã tạo nên nhiều đất cho diễn viên thể hiện.

Điều đáng nói là dàn diễn viên của Nhà hát Chèo Việt Nam đều rất chắc nghề, họ chính là những nhân tố quan trọng thổi lửa vào các nhân vật trong tác phẩm. Chỉ với vài gương mặt chính xuyên suốt toàn bộ vở diễn, thế nhưng khán giả vẫn bị hút vào tình tiết các câu chuyện và đặc biệt là được thả hồn lắng nghe những giai điệu ngọt ngào trong kho tàng âm nhạc truyền thống. Cánh diều lạc gió khai thác đề tài dân gian nhưng khi xem, khán giả hôm nay vẫn cảm nhận được những bài học đạo lý, nhân văn sâu sắc mà không hề cũ.

Cánh diều lạc gió là một vở chèo hay, đáng để xem và suy ngẫm. Tuy nhiên, tôi cho rằng những đạo diễn, họa sĩ thiết kế sân khấu nên nghiên cứu áp dụng kỹ thuật công nghệ mới để tạo phông cảnh cho bắt mắt. Sự đơn giản trong thiết kế mỹ thuật đã phần nào làm cho sân khấu chèo trở nên đơn điệu. Đừng cho rằng chèo vốn dĩ là ước lệ nên chiếu chèo cứ mãi đơn giản với vài ba bục bệ, điều đó làm giảm sự sinh động và sức hấp dẫn của vở diễn.

Các nghệ sĩ đã phải nghỉ suốt một thời gian dài bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19, Ban giám đốc Nhà hát cần sớm có kế hoạch để đưa “Cánh diều lạc gió” đến với khán giả. Và quan trọng nhất là sáng tạo, phát triển nhưng vẫn giữ được vẹn nguyên những nét đẹp của nghệ thuật chèo truyền thống.

(PGS.TS TẠ QUANG ĐÔNG, Thứ trưởng Bộ VHTTDL)

 Nguồn: THÚY HIỀN (Báo Điện tử Văn Hóa)

Vở Hồng Hà nữ sĩ: Đậm chất Chèo cổ, trữ tình và sâu lắng

VHO- Đêm diễn tổng duyệt vở Hồng Hà nữ sĩ vừa qua tuy chỉ có sự tham gia của các đại biểu và một số khán giả yêu Chèo Hà Nội, thế nhưng tất cả đều đã bị chinh phục bởi sự mẫu mực từ kịch bản, cách dàn dựng cho đến diễn xuất đỉnh cao của các nghệ sĩ đến từ “cánh chim đầu đàn” Nhà hát Chèo Việt Nam. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông đã tới dự và tặng hoa động viên ê kíp sáng tạo vở và các nghệ sĩ.
Thứ trưởng Tạ Quang Đông tặng hoa động viên các nghệ sĩ sau đêm tổng duyệt

Hồng Hà nữ sĩ đánh dấu sự trở lại của tác giả Trần Đình Ngôn (Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT), cây đại thụ của làng Chèo đã thêm một lần khẳng định tài năng uyên bác qua sự chuẩn chỉ trong cấu trúc kịch bản, văn phong ngôn ngữ và đặc biệt là các làn điệu Chèo cổ được khai thác và tỏa sáng trên sân khấu. Vở diễn được NSND Thanh Ngoan, Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam, nữ Tiến sĩ hiếm hoi của làng Chèo dàn dựng. Là thành viên của Hội đồng tổng duyệt chương trình, PGS.TS Trần Trí Trắc nhận định: “Tôi rất vui vì lâu lắm mới được xem một vở đậm chất Chèo như Hồng Hà nữ sĩ. Ê kíp sáng tạo đã chắt chiu tư liệu lịch sử để sáng tạo ra một tác phẩm nói về nhân vật lịch sử Đoàn Thị Điểm. Ca ngợi một bậc tiền nhân với những áng thơ bất hủ càng tăng thêm chất trữ tình, trong sáng cho vở diễn”.

Tác giả Trần Đình Ngôn chia sẻ: “Tôi chọn xây dựng hình tượng Đoàn Thị Điểm vì bà khác với nhiều nữ sĩ khác trong lịch sử, ở bà nổi trội lên đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam. Về tài văn thơ cũng như tài đối đáp thông minh của bà đã có nhiều người viết, nhưng bà còn là một phụ nữ yêu nước và có tầm nhìn của một chính trị gia, đồng thời lại rất xinh đẹp, đức hạnh và hiếu nghĩa. Cha mất sớm, bà cùng anh trai phụng dưỡng mẹ già. Rồi anh trai cũng mất để lại chị dâu cùng con nhỏ. Bà về làng dạy học, bốc thuốc, thay anh nuôi mẹ cùng các cháu và chị dâu bệnh tật. Đến năm 37 tuổi, bà mới nhận lấy Tiến sĩ Nguyễn Kiều, một người nổi tiếng hay chữ và thanh liêm. Bà chưa muốn đến với cuộc hôn nhân muộn màng nhưng mẹ già và cả nhà giục giã, đồng thời cũng vì tình thương những đứa trẻ, con riêng của chồng mất mẹ. Nổi bật lên ở nữ sĩ đó là sự cảm thông với số phận của người phụ nữ mà hy sinh quên cả bản thân mình”.

Bản thân nhân vật Đoàn Thị Điểm không có quá nhiều những biến cố tạo kịch tính để đẩy lên thành cao trào cho sân khấu, nhưng tác giả và đạo diễn đã tìm ra một chìa khóa riêng, khai thác chất trữ tình, chất văn chương và xây dựng lên một hình mẫu phụ nữ lý tưởng, tỏa sáng nét đẹp từ những ứng xử nhân văn, đầy tình người của nữ sĩ. Cốt truyện có phần đơn giản nhưng điều làm người xem thích thú là được khoan khoái, thư giãn để trở về những làn điệu Chèo cổ mượt mà, trữ tình, sâu lắng. Bên cạnh đó, những mảng miếng hài cũng được đan cài khéo léo để tăng sức hấp dẫn cho vở qua những màn đối thơ, màn ăn hỏi hụt…

Một cảnh trong vở diễn

Tham gia biểu diễn có nhiều thế hệ nghệ sĩ của Nhà hát Chèo Việt Nam, từ những “cây đa cây đề” như NSƯT Kim Liên (vai nữ sĩ Đoàn Thị Điểm), NSƯT Phú Kiên (Chánh sứ Nguyễn Kiều) cho tới những diễn viên trẻ mới làm nghề… Sự tinh tế, chuẩn chỉ của các nghệ sĩ đàn anh, đàn chị, kết hợp với sự tươi mới, nắm vững cơ bản của lớp diễn viên trẻ cho thấy công tác bồi dưỡng lớp diễn viên trẻ kế cận đã được Nhà hát Chèo Việt Nam quan tâm, phát triển đúng hướng.

Có thể nói, thời của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm liệu có mấy ai đủ dũng cảm để từ chối làm cung phi của Chúa, vậy mà bà đã vượt lên những ràng buộc của thể chế quân vương bảo thủ để có tầm suy nghĩ như một chính trị gia, thậm chí còn đưa ra 10 điều luận bàn về việc xây dựng đất nước, mơ về một quốc gia thịnh trị với vua sáng tôi hiền… Câu chuyện cách nay 300 năm, nhưng vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự khi tái hiện trên sân khấu Chèo những bài học đạo lý, cách đối nhân xử thế thấm đẫm tình người và đức hy sinh quên mình cho gia đình nói riêng và cộng đồng nói chung. Điều đó thật có ý nghĩa trong giai đoạn cả nước đang cùng chung tay vượt qua những khó khăn, cam go bởi dịch bệnh.

 Chèo đang đứng trước thách thức đổi mới để tồn tại

Để nâng cao chất lượng tác phẩm, Cục Nghệ thuật Biểu diễn đã mời một số chuyên gia ở từng thể loại sân khấu góp ý để các tác phẩm hoàn thiện tốt hơn trong mỗi đợt tổng duyệt chương trình.

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các chương trình văn hóa, giải trí ngập tràn trên Internet, trên sóng truyền hình khiến cho nghệ thuật truyền thống nói chung và nghệ thuật Chèo nói riêng bị lấn át và có nguy cơ mai một nếu không có định hướng phát triển phù hợp. Để Chèo đến gần hơn với công chúng, được khán thính giả yêu thích, việc giữ gìn và phát huy giá trị của nghệ thuật Chèo là cả một vấn đề nan giải. Với những cố gắng, nỗ lực, làng Chèo Việt Nam mong muốn và hy vọng sẽ làm cho công chúng ngày càng biết đến và yêu Chèo nhiều hơn. Những vở diễn mẫu mực như “Hồng Hà nữ sĩ” thể hiện khuynh hướng nghệ thuật đúng đắn, đó là: Làm Chèo không thể cứ mãi vay mượn mà phải thật sự chuẩn chỉ đậm chất Chèo.

(Thứ trưởng Bộ VHTTDL TẠ QUANG ĐÔNG)

Nguồn: LƯƠNG NHI – Báo Điện tử Văn hóa

Giữ lửa đam mê nghệ thuật Chèo

Trong bối cảnh giãn cách xã hội, nghệ sĩ và công chúng cùng ở nhà chung tay phòng, chống dịch bệnh, sân khấu cũng đóng cửa, tắt đèn. Tuy vậy, trên nền tảng trực tuyến, các nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam vẫn “cháy hết mình” qua các chương trình biểu diễn, giao lưu với khán giả, đưa chèo đến gần người yêu nghệ thuật truyền thống.

Giữ liên hệ với khán giả

“Một năm trở lại đây mới được nghe nghệ sĩ hát trực tiếp”; “lâu lắm rồi mới được nghe bài Hề chèo, nghệ sĩ hát hay quá!”; rồi “rất mong một ngày gần nhất được tới Nhà hát Chèo Việt Nam, được thưởng thức trực tiếp các nghệ sĩ diễn hát chèo”… là những lời bình luận, tán thưởng của khán giả gửi tới chương trình trực tuyến “Giữ lửa đam mê”, vừa được ra mắt trên fanpage Nhà hát Chèo Việt Nam.

Không chỉ biểu diễn các làn điệu chèo như “Đào Liễu”, “Tò Vò”; “Hề Cu Cậu”, hát văn “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa”, “Lời ru tình mẹ”, “Luyện năm cung”… theo nguyện vọng của khán giả, nghệ sĩ còn trò chuyện, trả lời câu hỏi của người yêu nghệ thuật. Cách xa về không gian vật lý, người biểu diễn và người xem đều ở trước màn hình, nhưng hình thức biểu diễn, giao lưu như vậy lại giúp nghệ sĩ và khán giả gần gũi hơn bao giờ hết. Ngay sau khi ra mắt, buổi diễn đã thu hút hàng chục nghìn lượt xem, bình luận, like, share, bày tỏ sự đón nhận của khán giả khi được trực tiếp nghe hát chèo khi ở nhà chống dịch; lại được nghe nghệ sĩ chia sẻ về chuyện đời, chuyện nghề…

Được chọn mở màn chương trình “Giữ lửa đam mê”, nghệ sĩ Trần Thái Sơn, Đoàn Nghệ thuật Truyền thống, Nhà hát Chèo Việt Nam chia sẻ: “Fanpage của Nhà hát Chèo Việt Nam có rất đông khán giả “ruột”, trước đây họ từng đến nhà hát xem nghệ sĩ biểu diễn, dõi theo các sự kiện hay video được chia sẻ trên đó. Minishow được tổ chức, vừa hát vừa tương tác với khán giả “ruột” và cả khán giả mới, nên trước buổi livestream tôi có chút hồi hộp, lo lắng. Tuy nhiên, cảm giác ấy tan biến khi được hát, được trò chuyện với mọi người. Tôi thấy rất vui và thú vị”.

239251534_4553927971305019_5041852588620043631_nTheo nghệ sĩ Trần Thái Sơn, trên sân khấu, nghệ sĩ được hỗ trợ với kịch bản, đạo diễn, bạn diễn, nhạc công, âm thanh, ánh sáng… trong khi livestream không có các yếu tố đó, nghệ sĩ phải tự biên tự diễn. “Tuy vậy, dù biểu diễn livestream hay trên sân khấu, nghệ sĩ đều phải nghiêm túc và chỉn chu. Thay vì nghe tiếng vỗ tay ở sân khấu, nghệ sĩ được mọi người khen ngợi, động viên bằng những dòng bình luận rất tích cực và ấm áp. Sau livestream và thấy khán giả thích thú đón nhận, mong chờ buổi diễn tiếp theo, tôi nhận thấy rằng, ngoài sân khấu, nghệ sĩ có thể tiếp cận khán giả bằng nhiều phương tiện, hình thức, nhưng phải chắt lọc các tiết mục hay và chất lượng để phục vụ khán giả. Vì đó là sứ mệnh của nghệ sĩ!”.

“Trước đây, nghệ sĩ được biểu diễn phục vụ đông đảo công chúng, thậm chí ở những nơi xa xôi nhất như miền núi, hải đảo, rồi dựng các vở diễn mới. Đại dịch xảy ra, gần đây các hoạt động của sân khấu tạm ngưng. Tuy nhiên, chúng tôi rất vui vì có công nghệ 4.0 đưa nghệ thuật tới gần khán giả hơn”.

Nghệ sĩ Trần Thái Sơn

Tạo thương hiệu trên nền tảng trực tuyến

Dự kiến diễn ra vào 20 giờ Chủ nhật hàng tuần, “Giữ lửa đam mê” mỗi minishow sẽ là sự xuất hiện của một nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam. NSND Thanh Ngoan, Giám đốc Nhà hát chia sẻ: “Trong tình hình dịch bệnh, nghệ sĩ cũng thực hiện nghiêm Chỉ thị 16 của Chính phủ. Vì thế, chúng tôi đồng ý để Đoàn Thanh niên của Nhà hát thực hiện chương trình hàng tuần, giới thiệu các gương mặt nghệ sĩ. Qua đó, nghệ sĩ có sân chơi, giao lưu với khán giả để giữ lửa đam mê, khi hết đại dịch lại bước vào các chương trình biểu diễn lớn; đồng thời động viên tinh thần người yêu nghệ thuật truyền thống trong mùa dịch”.

Trưởng phòng Tổ chức biểu diễn, Nhà hát Chèo Việt Nam Vũ Hương Lan cho biết, ý tưởng tổ chức chương trình đến rất bất ngờ. “Mùa dịch vừa rồi, Nhà hát ít hoạt động. Năm nay lại đánh dấu sự kiện lớn của Nhà hát – 70 năm ngày thành lập, nên bộ phận truyền thông đưa ra nhiều phương án để tăng tương tác với khán giả thông qua fanpage. Ví dụ như đăng tải link một số vở diễn đã quay truyền hình, một số bài hát lẻ do nghệ sĩ Nhà hát biểu diễn hoặc một số bài viết chuyên sâu về những tác phẩm chèo đã trở thành mẫu mực. Trước đó, chúng tôi cũng có hoạt động giới thiệu gương mặt nghệ sĩ thông qua hình ảnh hoặc video clip do chính nghệ sĩ biểu diễn. Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn thay đổi để đạt hiệu quả tốt hơn. Chính nhờ cuộc nói chuyện với nghệ sĩ Trần Thái Sơn về ý tưởng biểu diễn livestream trên fanpage Nhà hát, tôi cùng ekip thực hiện chương trình đã nhanh chóng bắt tay vào việc. Từ khi hình thành ý tưởng tới ngày đầu tiên ra mắt chương trình, chúng tôi có đúng 3 ngày chuẩn bị”.

Chương trình mới ra mắt đã nhận được sự đón nhận của khán giả, khiến những người thực hiện cũng bất ngờ. Chị Hương Lan bày tỏ: “Chúng tôi không nghĩ chương trình được khán giả quan tâm, hưởng ứng như vậy. Trước đây, Nhà hát phát trực tiếp nhiều chương trình biểu diễn, cũng nhận được sự ủng hộ rất nhiều từ khán giả. Nhưng lần livestream này, tôi thực sự bất ngờ bởi sự tương tác quá lớn. Bên cạnh yếu tố chuyên môn, cá nhân tôi cho rằng đây cũng là dịp để nghệ sĩ mạnh dạn xuất hiện trước công chúng. Qua chuỗi minishow này, hy vọng khán giả sẽ biết đến nhiều gương mặt nghệ sĩ và tài năng của họ”.

Không chỉ giới thiệu đội ngũ nghệ sĩ trẻ, dự kiến, chương trình sắp tới còn giới thiệu các thế hệ nghệ sĩ của Nhà hát Chèo Việt Nam với những chia sẻ kinh nghiệm về nghề cho các thế hệ sau và có thể chương trình sẽ có sự xuất hiện của những người đã góp sức để chèo được giữ gìn, phát triển. “Dù có nhiều khó khăn để tổ chức làm sao cho hấp dẫn khán giả, chúng tôi vẫn nỗ lực với mong muốn sẽ duy trì chương trình trong thời gian dài, đưa “Giữ lửa đam mê” trở thành thương hiệu trên nền tảng trực tuyến của Nhà hát Chèo Việt Nam” – chị Vũ Hương Lan nói.

Thảo Nguyên – Báo Đại biểu Nhân dân

“GIỮ LỬA ĐAM MÊ” – chương trình nghệ thuật trực tuyến giữa mùa dịch của Nhà hát Chèo Việt Nam

Nếu bạn là người yêu nghệ thuật Chèo thì không thể bỏ qua chuỗi chương trình trực tuyến “GIỮ LỬA ĐAM MÊ” đến từ Nhà hát Chèo Việt Nam!

“GIỮ LỬA ĐAM MÊ” là chương trình nghệ thuật giới thiệu các gương mặt nghệ sĩ đã và đang công tác tại Nhà hát Chèo Việt Nam. Mỗi chương trình sẽ là sự xuất hiện của một nghệ sĩ. Đơn giản có thể hiểu, đây là một #mini_show của mỗi nghệ sĩ.

Tại mỗi chương trình, người nghệ sĩ vừa đóng vai trò là một MC, vừa đóng vai trò là một khách mời, tương tác trực tiếp với khán giả qua những câu hỏi, chia sẻ những câu chuyện đời, chuyện nghề. Và, tất nhiên, sẽ không thể thiếu những làn điệu Chèo da diết cùng giọng hát mượt mà của nhân vật chính.

Số đầu tiên của mini show “GIỮ LỬA ĐAM MÊ” sẽ chính thức được lên sóng vào lúc ???????????????????? ngày ????????/????/???????????????? trên fanpage Nhà hát Chèo Việt Nam.

Kính mời quý vị khán giả cùng đón xem!

Đoàn chèo Hải Phòng ra mắt vở diễn mới

Đoàn chèo HP vừa ra mắt khán giả vở diễn mới “Những đứa con oan nghiệt” của tác giả NSND Doãn Hoàng Giang; đạo diễn NSND Xuân Huyền; âm nhạc Hạnh Nhân; chỉ đạo nghệ thuật Hoàng Mai.
Vở diễn “Những đứa con oan nghiệt” được bắt đầu với câu chuyện tướng cướp Tư Chớp bí mật đánh tráo đứa con ruột của mình lấy con người thầy đồ với mong muốn mình sẽ có một đứa con ham học, sáng đường công danh sự nghiệp. Nhưng Đức – đứa con được Tư Chớp nâng niu, hy vọng lớn lên vẫn trở thành một kẻ độc ác, bất nhân, mang bản chất của một kẻ cướp liều lĩnh. Nhân – con ruột của Tư Chớp – sống trong sự nuôi dạy nghiêm cấm của thầy đồ trở thành một chàng trai thông minh, giàu lòng nhân áiiiiCả Nhân – Đức và Long – con trưởng của Tư Chớp đều đem lòng yêu mến Hạnh – cô thôn nữ xinh đẹp, dịu dàng. Nhân đỗ Trạng nguyên, muốn xin cưới Hạnh làm vợ; ghen ghét và hũng hãn, Long giết chết Nhân – người em ruột của mình mà không hay biết.
“Những đứa con oan nghiệt” là một tác phẩm sân khấu có tính giáo dục sâu sắc, với triết lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” môi trường sống và giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.Sự nuôi dạy bằng tình yêu và lòng nhân hậu là phương pháp tốt nhất để mỗi con người trưởng thành có phẩm chất và tâm hồn cao đẹp./.
Administrator Account

Bước tiến mới của Đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc

Chúng tôi đến đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc trong không khí sôi nổi, bận rộn, các diễn viên của đoàn đang luyện tập các tiết mục dân ca đón Xuân. Chị Nguyễn Thị Thơm, Trưởng đoàn cho biết: “Năm nào cũng vậy, cứ truớc Tết Nguyên Đán một tháng là đoàn lại chuẩn bị cho các chương trình dân ca, kịch ngắn… phục vụ nhân dân đón Xuân. Năm nay, đoàn mời các nghệ sĩ nhà hát Chèo Trung ương về dàn dựng chương trình…”. Cả buổi chiều, các tiết mục được dàn dựng và chỉnh sửa theo yêu cầu của đạo diễn. Cảnh dựng, nhạc cụ và trang phục được đầu tư khá đầy đủ, các nghệ sĩ luyện tập hết mình như đốt cháy cả không gian nhỏ hẹp của hội trường trụ sở.
Tâm sự với các nghệ sĩ trong đoàn, chúng tôi được biết thêm về những khó khăn, vất vả của đoàn. Để có được những tiết mục hay, hấp dẫn phục vụ khán giả trong dịp Xuân và các lễ hội, mỗi nghệ sĩ trong đoàn phải chịu khó luyện tập, tập đi tập lại nhiều lần, hầu như họ không có ngày nghỉ. Tập đến khi nào đạo diễn cảm thấy ổn thì mới dừng. Những giọt mồ hôi rơi xuống vẫn không hề làm giảm đi sự nhiệt tình, đam mê của các nghệ sĩ. Chị Nguyễn thị Lệ Thuý, nghệ sĩ Đoàn Chèo cho biết: “Được cống hiến cho công chúng những vở diễn hay và độc đáo là niềm vui của nghệ sĩ chúng tôi. Chính vì vậỵ, mỗi tiết mục phải đòi hỏi dày công luyện tập và có trách nhiệm với chính nó”.

Đoàn nghệ thuật Chèo tiền thân là đoàn cải lương Vĩnh Phúc, đến năm 2005 mới chính thức đổi tên. Theo như chị Thơm, Truởng đoàn: “Vì nhu cầu thưởng thức của quần chúng, Vĩnh Phúc lại mang hơi thở của vùng Trung du Bắc Bộ nên chúng tôi muốn công chúng cảm nhận hơi thở ấy qua nhiều vở diễn do Đoàn dựng như: “Lời ru hai người mẹ”, “Trang chủ Sơn Đông”… Qua đó, khán giả sẽ cảm nhận về lịch sử vùng đất và con người Vĩnh Phúc. Nhớ lại, những năm tháng mới thành lập, đoàn còn gặp vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất, yếu tố con người; những vở diễn và nhiều tiết mục ngắn không có kinh phí nên không được đầu tư, trang phục diễn cho các diễn viên còn thiếu. Cả đoàn có vài diễn viên, những buổi biểu diễn rời rạc, nghèo nàn… không thu hút khán giả.

Đến năm 2005, khi chuyển thành Đoàn nghệ thuật Chèo Vĩnh Phúc, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở VH, TT&DL đã đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Đoàn một cách khang trang hơn, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010. Năm 2009, nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho đoàn hơn 3 tỷ đồng, đoàn có nguồn doanh thu biểu diễn và thu khác là 77 triệu đồng. Hiện nay, đoàn có 46 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 30 diễn viên. Đoàn đã dựng được nhiều vở diễn hay như: “Hoa khôi dạy chồng”, “Trang chủ Sơn Đông”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Biển khổ”… Nhiều vở diễn được đầu tư kinh phí; diễn viên, nhạc công cũng được đầu tư về nhạc cụ, trang phục… Nhiều vở diễn đã đoạt giải cao. Vừa qua, đoàn đã đạt được 2 Huy chương vàng và 2 huy chương bạc trong Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc tại Quảng Ninh.

Khi đoàn dựng vở “Trang chủ Sơn Đông” của tác giả Trần Đình Ngôn đã đầu tư rất nhiều về kinh phí, thời gian dàn dựng, trang thiết bị cảnh trí, phục trang và đạo cụ. Vở chèo có nội dung khá hấp dẫn, nói về công lao của tướng Trần Nguyên Hãn – anh hùng dân tộc Việt Nam, người có công lao to lớn trong chiến dịch Chi Lăng Xương Giang, được người đời ban tặng 4 chữ lớn “Khai Quốc Nguyên Huân” (công đầu mở nước)… từ đó người Vĩnh Phúc hiểu thêm về lịch sử đất mình và các tỉnh bạn cũng hiểu thêm về văn hoá mảnh đất của mình. Vở “Hoa khôi dạy chồng” của tác giả Đoàn Hoàng Giang, đạo diễn Bùi Đắc Sừ cũng được đoàn đầu tư cả về kinh phí, nội dung lẫn hình thức, với diễn xuất tốt đã phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhân dân các xã miền núi trong tỉnh.

Với tổng số 110 buổi, trong đó có 90 buổi phục vụ nhân dân các xã miền núi; 10 buổi phục vụ các ngày lễ lớn; 2 buổi phục vụ đối ngoại, giao lưu và 8 buổi có doanh thu. Số lượt người xem khoảng 150.000 lượt người, các vở diễn của đoàn không chỉ phục vụ vùng đô thị mà chủ yếu phục vụ nhân dân các làng, xã vùng sâu, vùng xa… đã đón nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội.

Nguyễn Thu Thuỷ

Đoàn nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang 50 năm xây dựng và trưởng thành

Đoàn Nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang tiền thân là Đoàn nghệ thuật Chèo Sông Thương, được thành lập từ tháng 6 năm 1959. Năm mươi năm qua, dù phải trải qua bao thăng trầm gian nan vất vả, Đoàn vẫn vững vàng vượt khó đi lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tin yêu giao phó, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước, vào sự nghiệp bảo tồn và phát triển bộ môn nghệ thuật Chèo truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc.

Khi mới thành lập, Đoàn đã mời các nghệ nhân Nhà hát Chèo Trung ương về truyền dạy, rồi được bổ sung diễn viên, nhạc công có kiến thức cơ bản để dàn dựng những vở chèo ngắn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, cổ vũ thi đua lao động sản xuất, bài trừ tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu của chế độ cũ. Đó là các vở: “Hương lúa tình quê”, “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”, “Mối tình Điện Biên”, “Tiến lên phía trước”, “Cho đẹp quê ta”… Những năm tiếp theo, Đoàn dàn dựng những vở chèo truyền thống dài như: “Suý Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”. Việc dàn dựng và biểu diễn thành công các vở diễn lớn đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng của Đoàn trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện hoạt động. Hành trang vào nghề của Đoàn lúc bấy giờ còn rất thô sơ, nghèo nàn (4 chiến xe ba gác, 4 chiếc đèn măngxông, không có tăng âm tiếng nói, phông màn được may bằng vải thô, một số phục trang cũ được dùng cho nhiều vở diễn), chế độ bồi dưỡng biểu diễn cho diễn viên, nhạc công, kỹ thuật không có. Vậy mà nghệ sĩ vẫn nhiệt tình, say đắm với nghề, ánh đèn măngxông vẫn luôn rực sáng, tiếng trống chèo vẫn rộn rã khắp các làng quê từ vùng cao Sơn Động đến các nông-lâm trường Lục Nam, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà… Nhiều nơi, do đường đèo nhỏ xe cải tiến không đi được, lãnh đạo đoàn và các nghệ sĩ lại phải khiêng vác đạo cụ, cảnh trí, xoong nồi cấp dưỡng vào điểm diễn để tổ chức phục vụ nhân dân.

Chương trình biểu diễn của Đoàn trong giai đoạn này, ngoài những vở chèo dài còn có những ca cảnh, những bài hát mới, dân ca quan họ, những điệu múa dân gian để phục vụ nhu cầu đa dạng của khán giả. Năm 1962, tại Hội diễn tổng hợp 9 tỉnh được tổ chức tại Thường Tín (Hà Tây), Đoàn đã tham dự với hai vở chèo “Tiến lên phía trước” (tác giả Minh Châu, đạo diễn Bá Lưu) và “Ba anh em họ Điềm” (tác giả Lê Dân, đạo diễn Nguyễn Vinh). Cả hai vở đều được Hội diễn đánh giá khá cao về nội dung và chất lượng nghệ thuật.

Năm 1963, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, hai đoàn nghệ thuật Chèo của hai tỉnh được sáp nhập và đổi tên thành Đoàn nghệ thuật Chèo Hà Bắc.
Lúc này, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đang bước vào giai đoạn gay go ác liệt. Thi hành chỉ thị của UBND tỉnh và Ty Văn hoá-Thông tin, Đoàn đã phải đi sơ tán ở nhiều nơi, chia thành nhiều tốp xung kích với những tiết mục ngắn gọn, nhanh chóng có mặt ở những nơi giặc Mỹ đánh phá để biểu diễn động viên, cổ vũ cho tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân. Tiếng hát chèo của quê hương Bắc Giang lại cất lên giữa làn mưa bom bão đạn, động viên các chiến sĩ vững thêm tay súng, làm dịu bớt nỗi đau mất mát hy sinh. “Tiếng hát át tiếng bom” của các nghệ sĩ đã hoà cùng phong trào thi đua trong cả nước, thể hiện niềm tin vào chiến thắng, vào tương lai tươi sáng của cả dân tộc.
Đêm biểu diễn, ngày lao động làm cỏ, gặt lúa giúp dân, các nghệ sĩ đi đến đâu cũng được dân nhớ, dân thương. Nhiều nghệ sĩ của đoàn được nhân dân ghi nhớ cho tới bây giờ, như: Văn Thành, Huy Bái, Văm Thơm, Đăng Nhật, Diễm Loan, Dương Lễ, Lê Phan, Hữu Luận, Thuý Tình, Thu Hiền, Thuý Lan, Văn Khách, Thanh Hải, Khánh Tuyên…
Chương trình biểu diễn của Đoàn trong thời kỳ này là các vở diễn: “Nguyễn Văn Bé”, “Cô gái Long Châu Sa”, “Tình quân dân”, “Làng Thương”, “Cai Tranh đốt quán”, “Trên đồi pháo”… cùng với những ca khúc, điệu múa phù hợp với nhịp độ sôi động vừa chiến đấu vừa sản xuất của nhân dân. Bên cạnh những tiết mục ngắn, Đoàn còn dàn dựng những vở diễn dài như: “Tiếng hát làng Pơ Rao”, “Lứa tuổi xuân”, “Dòng phù sa”, “Tấm Cám”…
Năm 1970, tuy chiến tranh vẫn ác liệt nhưng Đoàn vẫn dàn dựng tiết mục để phục vụ nhân dân và tham gia hội diễn tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh) vở: “Tiếng làng PơRao” (tác giả Ngô Quang Thắng; Nguyễn Hữu Luận chuyển thể và đạo diễn). Vở diễn đã gây xúc động, chiếm được tình cảm của người xem.
Năm 1971, theo tiếng gọi của tiền tuyến, tỉnh Hà Bắc đã thành lập Đội văn công xung kích vào chiến trường phục vụ các chiến sĩ. Nhiều nghệ sĩ của đoàn, như Lê Phan, Hữu Luận, Khánh Tuyên, Hoàng Linh, Minh Chính, Hồng Thắm… đã xung phong vào Đội, lên đường ra tiền tuyến. Các anh, các chị đã vượt bom đạn, mang tiếng hát, mang nghĩa tình sâu nặng của quê hương Bắc Giang tới nơi chiến trường rực lửa để động viên các chiến sĩ. Kết thúc đợt diễn, Đội Văn công xung kích đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, được Bộ Tư lệnh chiến trường 559 và UBND tỉnh Hà Bắc tặng Bằng khen. Và trong những năm hào hùng ấy, nhiều cán bộ, nghệ sĩ của Đoàn đã xung phong lên đường nhập ngũ. Có những đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khói lửa. Các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu lại trở về tiếp tục mang tài năng nghệ thuật của mình chung lòng xây dựng đoàn ngày một trưởng thành.
Thời kỳ 1975-1990, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đoàn Chèo Hà Bắc bước vào tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, dàn dựng nhiều vở diễn cổ vũ cho công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, như: “Dòng phù sa”, “Chàng rể bố vợ”, “Những người nói thật”…
Năm 1980, tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, Đoàn Nghệ thuật Chèo Hà Bắc lại gây được sự chú ý của ngành chèo và sự yêu mến của khán giả thủ đô Hà Nội bằng vở diễn “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” (tác giả Đào Thiệm, đạo diễn Trần Bảng). Đoàn đã biểu diễn tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, diễn ba đêm liền tại Nhà hát lớn thành phố, báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo Bộ Văn hoá, Hội sân khấu Việt Nam và nhiều đêm diễn liên tục tại các rạp hát Thủ đô, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh phòng không không quân và nhiều đơn vị khác.
Cùng với vở “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ”, Đoàn đã dựng vở “Nguyên Phi Ỷ Lan”, “Học sỹ Nguyễn Cao”, “Ngọn cờ đại nghĩa”, “Tiếng hát đưa nôi”, “Hoàng tử Pôn Na Vông”, “Những người nói thật”, “Những đứa con oan nghiệt”… Ở mỗi vở có sự thành công khác nhau, nhưng tất cả đều bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Nhà nước và địa phương, đó là: giáo dục tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi những tấm gương anh hùng cách mạng, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ca ngợi tình đoàn kết gắn bó thuỷ chung “Vừa là đồng chí, vừa là anh em” của các dân tộc Đông Dương; ca ngợi những con người dám nghĩ, dám làm đưa quê hương ngày thêm giầu đẹp; đồng thời phê phán mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu làm ảnh hưởng đến bước tiến chung của toàn xã hội.
Năm 1988, Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh), Đoàn đã tham dự với vở “Oan trái làng Tằm”, tác giả Xuân Hồng- Trần Minh, đạo diễn Ngọc Phương, biên đạo múa NSND Trần Minh.
Từ năm 1988 đến năm 1995 là thời kỳ đã để lại ấn tượng sâu sắc, khó quên trong cuộc đời làm nghề của các nghệ sĩ tỉnh Hà Bắc. Thời kỳ đầu, do chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường nên các đoàn nghệ thuật đều gặp khó khăn, bế tắc. Tỉnh Hà Bắc có bốn đoàn nghệ thuật (đoàn Nghệ thuật Tuồng, đoàn Chèo, đoàn Kịch nói, đoàn Dân ca Quan họ) hầu như đều phải ngừng hoạt động.
Đứng trước thực trạng đó, Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao đã có đề án củng cố xếp sắp lại bộ máy tổ chức của các đoàn nghệ thuật, trình UBND tỉnh ra Quyết định tinh giảm biên chế, từ bốn đoàn chỉ để lại hai đoàn (Đoàn Nghệ thuật Chèo và Đoàn Dân ca Quan họ).
Ba đơn vị Kịch, Tuồng, Chèo được hợp nhất thành Đoàn nghệ thuật Chèo, trong đó nòng cốt là cán bộ diễn viên của Đoàn nghệ thuật Chèo. Từ 130 cán bộ nhân viên của ba đơn vị và đội xe máy phải giảm biên chế chỉ còn 31 người. Một số diễn viên xuất sắc của đoàn Tuồng, đoàn Kịch nay chuyển sang làm diễn viên Chèo quả là một khó khăn.
Sau khi củng cố tổ chức, Đoàn đã nhanh chóng tổ chức tập huấn chuyên môn và bắt tay dàn dựng lại các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chinh phụ hai chồng” và “Đôi ngọc lưu ly”. Cuối năm 1993, Đoàn đã thành lập một đội gồm 16 cán bộ, diễn viên, nhạc công vào biểu diễn phục vụ cán bộ và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh…
Cũng trong giai đoạn này, Đoàn đã xây dựng chương trình tham dự thi Tiếng hát Chèo hay toàn quốc (1992) tại Hải Dương và tham dự thi các trích đoạn chèo, tuồng hay toàn quốc (1993) tại Ninh Bình. Cả hai cuộc thi, Đoàn đều đoạt được những thành tích cao với 6 Huy chương vàng, 5 Huy chương bạc và được Bộ VHTT tặng Bằng khen, trong đó có cả những diễn viên chèo mới cũng được Huy chương bạc.
Năm 1992, 1993 Đoàn được tặng Bằng khen của Bộ VHTT, Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam, UBND tỉnh Hà Bắc, UBND tỉnh Tây Ninh.
Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Đoàn được đổi tên là Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Bắc Giang.
Ý thức được đầy đủ vinh dự và trách nhiệm lớn lao của mình, Ban lãnh đạo đoàn đã nhanh chóng xây dựng đề án Đoàn vẫn tiếp tục định hướng kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, khai thác đề tài lịch sử viết về những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá của địa phương, phát huy thế mạnh của mảng chèo dân gian, bên cạnh đó vẫn dàn dựng những đề tài hiện đại làm cho chương trình nghệ thuật của đoàn thêm đa dạng, phong phú phục vụ được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mọi tầng lớp khán giả. Từ quan điểm chỉ đạo trên, những năm gần đây dàn kịch mục của đoàn đã có nhiều vở diễn được công chúng mến mộ như: “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Phò mã Thân Cảnh Phúc”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Lời ru hai người mẹ”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chuyện tình sau chiến tranh”, “Nước mắt tuổi thơ”, “Gươm báu truyền ngôi”… Bên cạnh những vở dài, hàng năm Đoàn còn dựng một số các trích đoạn chèo ngắn, chương trình ca nhạc dân gian để phục vụ khán giả, phục vụ các chương trình giao lưu nghệ thuật, phục vụ các đoàn khách Trung ương, tỉnh bạn về thăm và làm việc với Bắc Giang.
Điều đáng mừng là bên cạnh lớp diễn viên thế hệ đi trước đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT như Hồng Tính, Trần Thông, Thanh Nhàn, Hương Quế, và các nghệ sỹ xuất sắc như Xuân Hậu, Thanh Hải… Đoàn có một dàn diễn viên trẻ như Mạnh Lẫm, Quỳnh Mai, Thanh Hường, Anh Tuấn, Lệ Xuân, Đình Hưng, Hoàng Chung, Anh Quân, và những nhạc công như Tiến Mạnh, Văn Tuyên… đã nhanh chóng trưởng thành, đạt được nhiều thành tích cao trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao.
Năm 2001, tại Liên hoan Sân khấu chèo truyền thống tổ chức tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), dàn diễn viên trẻ của đoàn đã gây được ấn tượng tốt đẹp trước toàn thể bạn nghề của làng Chèo cả nước và của Ban Giám khảo hội diễn qua vở “Suý Vân”. Nghệ sỹ trẻ Quỳnh Mai đã được tặng hai giải thưởng, 01 Huy chương vàng và giải Nghệ sỹ múa đẹp nhất.
Năm 2002, tại Hội thi “Hát Dân ca” các tỉnh Trung du đồng bằng Bắc Bộ do Bộ VHTT tổ chức, một lần nữa các nghệ sỹ trẻ lại khẳng định được tài năng của mình, với 05 tiết mục dự thi Đoàn đã được Ban Giám khảo tặng thưởng 1 Huy chương vàng toàn đoàn, 3 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc tiết mục.
Năm 2003, với đội hình hơn 40 cán bộ nghệ sỹ, Đoàn đã tổ chức đợt biểu diễn dài ngày với gần 30 đêm diễn trên địa bàn các tỉnh phía Nam, như Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kom Tum-Đắc Lắc và một số các đơn vị lực lượng vũ trang. Chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại những ấn tượng sâu sắc khó quên với cán bộ và nhân dân những nơi đoàn lưu diễn.
Từ năm 1999 đến 2009, năm nào đoàn cũng thực hiện được từ 140 đến 150 đêm diễn trở lên, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Với gần 100 vở diễn, 70 Huy chương vàng, bạc của tập thể và cá nhân trong các kỳ hội diễn từ những năm 1980 trở lại đây, Đoàn đã đươc tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL, UBND tỉnh về thành tích công tác. Năm 2004, Đoàn vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2009 Đoàn vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.
Kế thừa truyền thống 50 năm đầy vẻ vang, tập thể và lãnh đạo, nghệ sỹ đoàn Nghệ thuật Chèo Bắc Giang tâm nguyện sẽ phấn đấu không ngừng, coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân, khuyến khích các tài năng, sáng tạo nhiều vở diễn có giá trị tư tưởng lành mạnh, tính nhân văn sâu sắc và giá trị nghệ thuật cao, quyết tâm xây dựng đoàn Nghệ thuật (Chèo, Ca múa nhạc) Bắc Giang thành.
Ngô văn Trụ – Trần Thông

Giữ gìn bản sắc chèo Nam Ðịnh

Nam Ðịnh được coi là chiếc nôi của nghệ thuật Chèo. Dường như mỗi người dân nơi đây khi sinh ra đã được đắm mình trong những làn điệu chèo ngọt ngào, đằm thắm. Từ chiếng chèo Nam đến Nhà hát chèo Nam Ðịnh là cả một quá trình vượt khó đi lên để tiếng trống chèo mãi âm vang trong lòng công chúng.

Đoàn chèo Nam Định biểu diễn phục vụ
nhân dân tại xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc.

Nam Định là vùng đất cổ. Các thần tích, thần phả, văn bia, thư tịch còn lưu giữ cho thấy: Từ thời tiền sử, người Việt cổ đã di cư từ vùng đất trung du xuống vùng hạ lưu ven biển Nam Ðịnh, sinh kế bằng nghề chài lưới và trồng lúa nước. Từ trong lao động, các sinh hoạt văn hóa dân gian và tín ngưỡng dân gian ra đời. Nói Nam Ðịnh là chiếc nôi của nghệ thuật chèo bởi đây là quê hương của sử thi Mẫu Liễu Hạnh – một trong “tứ bất tử” được truyền tụng trong dân gian bao đời nay. Các vật thờ cúng trong lễ hội Phủ Dày hằng năm và các làn điệu hát chầu văn được phô diễn trong các giá đồng đủ nói lên điều đó. Nam Ðịnh cũng là quê hương của Trạng nguyên Lương Thế Vinh, người đầu tiên nghiên cứu công phu đặc điểm, quy tắc nghệ thuật chèo thông qua tác phẩm nổi tiếng Hý phường phả lục. Với gần 1.700 di tích lịch sử, văn hóa trải đều khắp địa bàn trong tỉnh, cứ mỗi độ xuân về, hội làng được tổ chức thì ta luôn bắt gặp tiếng trống chèo vang lên như chất kết dính quá khứ và hiện tại ở những vùng quê hồn hậu, thuần khiết. Trong mối quan hệ với các chiếng chèo xứ Bắc, xứ Ðông, xứ Ðoài, chiếng chèo Nam xưa có hàng trăm gánh hát ở khắp làng quê. Các gánh hát tồn tại như một lẽ tất yếu, một nhu cầu không thể thiếu trong sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ văn hóa của người lao động. Câu ca dao cổ: “Ăn no rồi lại nằm khoèo/ Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem” đã phản ánh sinh động đời sống tinh thần của người nông dân xưa kia, bởi lẽ khi xem các nhân vật trong các tích chèo ta thấy bóng dáng của những con người trong đời sống thực. Ở đó là các cô thôn nữ thảo hiền, nết na, nhân hậu như cô Tấm (vở Tấm Cám), Thị Phương (vở Trương Viên), Thị Kính (vở Quan âm Thị Kính), Châu Long (vở Lưu Bình – Dương Lễ); những mụ dì ghẻ độc ác như mẹ Cám (vở Tấm Cám); những bà mẹ chồng nghiệt ngã như Sùng Bà (vở Quan âm Thị Kính), v.v.

Trên cái nền phát triển rộng khắp của các gánh hát chèo, sau là đội chèo, tới năm 1959 Ðoàn nghệ thuật Chèo Nam Ðịnh được thành lập. Chỉ ba năm sau, chèo Nam Ðịnh đã khẳng định tên tuổi của mình với công chúng cả nước bằng Huy chương Bạc cho vở diễn Ðôi ngọc lưu ly tại Hội diễn mùa xuân năm 1962. Một năm sau, vở diễn Chị Tâm bến Cốc vinh dự được công diễn phục vụ Ðại hội đại biểu Ðảng bộ tỉnh Nam Ðịnh và anh chị em diễn viên được chụp ảnh lưu niệm với Bác Hồ tại Ðại hội tối 21-5-1963. Ðặc biệt, vở chèo lịch sử Trần Quốc Toản ra quân đã gây tiếng vang lớn trong cả nước với hàng trăm đêm diễn, năm 1971 vở diễn được Hãng phim truyện Việt Nam quay thành phim nhựa phục vụ bộ đội và đồng bào vùng sâu, vùng xa, điều ấy như một thứ hữu xạ tự nhiên hương để hình ảnh và tiếng hát chèo Nam Ðịnh được chắp cánh bay xa. Ðến tận bây giờ, Nhà hát chèo Nam Ðịnh được ví như một thứ vàng mười đã qua bao lần thử lửa.

Hiện nay, Ðoàn nghệ thuật Chèo Nam Ðịnh được UBND tỉnh nâng cấp thành Nhà hát Chèo Nam Ðịnh. Bởi vậy cùng với việc bảo đảm đời sống, tạo đất diễn cho các nghệ sĩ, diễn viên trên chiếc nôi chèo, công tác khôi phục, bảo tồn, truyền bá nghệ thuật chèo truyền thống cũng như đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho nghệ sĩ, diễn viên tham gia đào tạo hạt nhân cho các đội chèo đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Với phương châm “khán giả không đến rạp thì người hát chèo sẽ tìm đến khán giả”, trong nhiều năm qua Nhà hát Chèo Nam Ðịnh đã tổ chức diễn lưu động tới các vùng quê, các lễ hội, trong trường học. Bằng tình yêu nghệ thuật, lòng đam mê vốn văn hóa truyền thống, Nhà hát Chèo Nam Ðịnh đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả là gìn giữ và phát huy vốn cổ của dân tộc, qua đây những nghệ sĩ chèo đã nhận ra sức sống mãnh liệt của nghệ thuật hát chèo vẫn còn ấm nồng trong lòng công chúng. Song song với việc dàn dựng và khôi phục các vở diễn dài, từ cuối những năm 90, Nhà hát Chèo Nam Ðịnh cho ra đời loại hình sân khấu nhỏ mang tên “Chiếu Chèo Nam”. Nắm bắt được tâm lý người xem, nhà hát đã dày công sưu tầm và dàn dựng những trích đoạn chèo ngắn, hấp dẫn, đôi khi là trích đoạn chèo đã trở thành kinh điển trong nghệ thuật chèo Việt Nam như Thị Mầu lên chùa, Súy Vân giả dại, Xã trưởng mẹ Ðốp, Cu Sứt huyện tể. Nhà hát cũng thành công trong biên soạn, dàn dựng và biểu diễn trên “Chiếu Chèo Nam” 13 giá hát văn và múa hát chầu đồng trong đạo tứ phủ (Phủ Dày) – một loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của quê hương Nam Ðịnh. Ðến đây, công chúng không chỉ được thưởng thức những tinh túy trong các trích đoạn chèo cổ mà còn được đắm mình trong giai điệu dân ca đằm thắm, trữ tình của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. “Chiếu Chèo Nam” vinh dự được biểu diễn phục vụ các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và nhiều đoàn khách trong nước, quốc tế mỗi dịp về thăm Nam Ðịnh.

Nghệ sĩ Ưu tú Huy Soái, Giám đốc Nhà hát Chèo Nam Ðịnh thổ lộ với chúng tôi: Sở dĩ Nam Ðịnh vẫn giữ được hồn cách của lối hát chèo truyền thống là do luôn xác định đúng đắn định hướng phát triển nghệ thuật, nghiêm túc trong khai thác, kế thừa phát triển nghệ thuật chèo cổ, không bị chao đảo trước cơn bão “chèo cách tân”, đồng thời tạo nét riêng bản sắc chèo Nam Ðịnh, đây cũng là hướng đi bền vững trong lòng công chúng đam mê nghệ thuật truyền thống.

Theo Nhân Dân

Nhà hát Chèo Ninh Bình, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển (1959-2009), với nỗ lực không ngừng và tinh thần đoàn kết, học hỏi, đổi mới, sáng tạo, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đúng hướng.

Cán bộ, diễn viên Nhà hát chèo Ninh Bình sau buổi biểu diễn tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc năm 2009.

Trong một buổi tập. Ảnh: Phạm Trường.
Năm 1959, Đoàn văn công Sông Vân được thành lập với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân, các lực lượng vũ trang trong tỉnh. Với lực lượng nòng cốt ban đầu là những cán bộ làm công tác thông tin địch vận, có chút năng khiếu được “trưng dụng” từ các đơn vị trong tỉnh, các tác phẩm của Đoàn phần lớn là những hoạt cảnh có nội dung tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… bước đầu đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân, đồng thời góp phần động viên, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu.

Ngay từ những năm đầu thành lập, Đoàn đã dàn dựng những vở diễn có nội dung gắn liền với lịch sử, truyền thống của quê hương, được nhân dân đón nhận và gây ấn tượng tốt như: Nàng tiên bên núi Thúy, Lá cờ năm xưa, Vườn cam, Trần Quốc Toản, Thái hậu Dương Vân Nga… Lớp các nghệ sỹ đầu tiên của Đoàn văn công Sông Vân được khán giả nhớ và biết đến qua các vai diễn tiêu biểu như: Nghệ sỹ Xuân Cưu, Kim Liên, Hồng Nhạn, Đăng Thanh, Thúy Mùi, Lâm Bình, Xuân Chính… Đây cũng là thế hệ nghệ sỹ đã có những đóng góp tích cực trong việc tham gia biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sỹ tại các trận địa ở trong tỉnh và tận chiến trường miền Nam.

Với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”, các nghệ sỹ Đoàn văn công Sông Vân đã góp phần động viên tinh thần chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược của quân và dân địa phương. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn văn công Sông Vân có sự thay đổi về tên gọi để phù hợp với tình hình như: Đoàn chèo Sông Vân, Đoàn chèo Ninh Bình, Đoàn văn công Ninh Bình… Những đóng góp của Đoàn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước rất đáng trân trọng.

Từ năm 1964, với phương châm tự huấn luyện, tự đào tạo, Đoàn đã có sự phát triển cả về quy mô, số lượng, dần tiến tới một đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Để góp phần động viên, cổ vũ nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, các diễn viên của Đoàn đã chia thành các tốp nhỏ đến các trận địa, đơn vị đóng quân của bộ đội để phục vụ. Đoàn còn vào các chiến trường Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, sang Lào… để phục vụ bộ đội và đồng bào… Đất nước thống nhất, hoạt động biểu diễn của Đoàn tiếp tục làm tròn trách nhiệm tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, xây dựng và kiến thiết quê hương, đất nước, khôi phục và phát triển kinh tế.
Từ năm 1982 đến 1991, Đoàn chèo Ninh Bình sáp nhập với Đoàn chèo Nam Định để thành lập Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Cùng chung suy nghĩ, trách nhiệm và sự tâm huyết với nghề, các nghệ sỹ, diễn viên của Đoàn đã đoàn kết, nhất trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thời kỳ này, Đoàn chèo Hà Nam Ninh đã gây được tiếng vang tại các hội diễn toàn quốc qua các vở diễn. Trong thành tích chung của Đoàn, có sự đóng góp tích cực của các nghệ sỹ, diễn viên Ninh Bình. Tiêu biểu năm 1985, vở diễn “Những người nói thật” của tác giả An Viết Đàm, nghệ sỹ Kim Khuyên đạt huy chương vàng, Lâm Bình đạt huy chương bạc…

Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập, đã mở ra cho Đoàn nhiều thuận lợi và điều kiện để phát triển. 24 cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên khi ấy thuộc các lĩnh vực: chèo, ca múa nhạc, cải lương, kịch nói của Đoàn Hà Nam Ninh, là con em quê hương Ninh Bình đã trở về quê hương để góp sức gây dựng nghệ thuật chèo nói riêng, hoạt động của Đoàn nói chung. Được sự quan tâm, động viên sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Đoàn được đầu tư kinh phí, mua sắm phương tiện, thiết bị, trang phục, nhạc cụ… phục vụ hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Vở diễn đầu tiên sau 17 năm chia tách được Đoàn dàn dựng thành công là vở chèo “Tấm áo bào Hoàng đế”. Đây là vở diễn phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vì đã truyền tải đến người xem giá trị và ý nghĩa lịch sử, truyền thống của quê hương thông qua tác phẩm sân khấu. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã triển khai thực hiện biểu diễn ở cả 2 loại hình là nghệ thuật chèo và biểu diễn ca múa nhạc. Trung bình mỗi năm, Đoàn đã biểu diễn trên 120 buổi phục vụ khoảng 180.000 lượt khán giả. Đoàn thường tổ chức về các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, ven biển để phục vụ nhân dân các vùng khó khăn, ít có điều kiện tiếp cận, thưởng thức các loại hình nghệ thuật.

Nhìn lại quá trình từ năm 1992 đến nay, không phụ sự tin tưởng, kỳ vọng và sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã đầu tư, chuẩn bị chu đáo để có nhiều vở diễn chất lượng cao tham dự các hội thi, hội diễn sân khấu toàn quốc. Những vở chèo như: Nước mắt vua Đinh, Kim Nham, Trương Hán Siêu… là những vở diễn không chỉ khẳng định hướng đi đúng của Đoàn trong việc khôi phục và gìn giữ vốn chèo cổ, mà còn là những vở chèo mang lại thành công cho các nghệ sỹ của Đoàn vì đã xuất sắc giành được các huy chương vàng tại các hội thi, hội diễn như: Nghệ sỹ Lâm Bình, Lý Thanh Kha, Xuân Nghị, Quang Thập, Minh Huệ, Mai Thủy… Mới đây, tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), Nhà hát chèo Ninh Bình đã tham gia vở chèo “Linh khí Hoa Lư” và giành được 1 huy chương vàng cho vở diễn xuất sắc, 6 huy chương vàng, huy chương bạc cho cá nhân các nghệ sỹ.

Kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ nghệ sỹ đi trước, tập thể cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công, công nhân viên Nhà hát chèo Ninh Bình quyết tâm xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, mạnh dạn có những giải pháp nhằm đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhiều năm liền, Nhà hát được Bộ Văn hóa – Thông tin, UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc, bằng khen vì những thành tích đạt được. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Nhà hát vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, có những bước đi vững chắc, khẳng định vị trí của một đơn vị nghệ thuật đối với sự phát triển, đi lên của tỉnh, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có nhiều đóng góp cho nền nghệ thuật tỉnh nhà, để lại trong lòng công chúng yêu nghệ thuật sân khấu Ninh Bình những dấu ấn và tình cảm hết sức trân trọng và đáng quý. Đây sẽ là hành trang, là động lực để tập thể cán bộ, nghệ sỹ, nhạc công, công nhân viên chức Nhà hát chèo Ninh Bình tiếp tục cống hiến, nỗ lực luyện tập để góp thêm cho đời những nốt nhạc vui, những bông hoa nghệ thuật rực rỡ.

Nguyễn Quang Thập
(Giám đốc Nhà hát chèo Ninh Bình)

Nhà hát Chèo Thái Bình kỷ niệm 50 năm xây dựng, trưởng thành và đón Huân chương Độc lập

Ngày 29-12-2009 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh đã long trọng diễn ra Lễ kỷ niệm 50 năm Nhà hát Chèo Thái Bình (1959 – 2009) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Đến dự có các đồng chí Cao Thị Hải – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Cục Nghệ thuật và Biểu diễn, Cục Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; lãnh đạo các sở, ban ngành, các đoàn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh; các thế hệ đạo diễn, diễn viên, nhạc công Nhà hát chèo các thời kỳ.
Nhà hát Chèo được thành lập từ ngày 01-8-1959 với tên gọi ban đầu là Đội văn công Thái Bình, trải qua các thời kỳ với các tên gọi khác nhau, đến 2004 mang tên Nhà hát Chèo Thái Bình. Từ 25 người ban đầu đến nay Nhà hát Chèo có 62 nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công trong đó có 10 nghệ sỹ ưu tú; 26 hội viên hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. 50 năm với bao thăng trầm khó khăn, thử thách, Nhà hát đã dàn dựng gần 80 vở chèo, nhiều hoạt cảnh, ca khúc gồm các thể loại như lịch sử, dã sử, thần thoại, dân gian, truyền thống, hiện đại. Không những thế, tiếng hát chèo của Nhà hát Chèo Thái Bình còn vượt ngàn trùng khơi đến với bạn bè châu Âu, châu Á, châu Mỹ, trở thành sứ giả, hiện diện của một miền quê lúa nước vùng châu thổ sông Hồng, để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn bè quốc tế. Với những thành tích trong lao động sáng tạo nghệ thuật, Nhà hát Chèo Thái Bình đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại qua các kỳ hội diễn, nhiều Bằng khen của Chính phủ, của Bộ VHTT và DL cho tập thể và cá nhân các nghệ sĩ.
Một lần nữa ghi nhận thành tích của Nhà hát Chèo Thái Bình, Chủ tịch nước đã quyết định tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong không khí trang nghiêm, đồng chí Cao Thị Hải thừa ủy quyền của Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận, biểu dương thành tích các thế hệ đạo diễn, diễn viên nhạc công Nhà hát Chèo đạt được thời gian qua, đồng thời giao một số nhiệm vụ Nhà hát cần thực hiện trong thời gian tới, nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng Nhà hát ngày càng trưởng thành vững mạnh, tiếp tục góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tin, ảnh: Hà Dung