Tổ chức Lễ hội Đền Hùng 2010 theo chủ đề 1.000 năm Thăng Long

(Dân trí) – Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2010 ở quy mô cấp quốc gia. Bên cạnh đó, nhiều chương trình trong lễ hội năm nay có chủ đề hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Lễ hội Đền Hùng 2010 sẽ diễn ra trong 10 ngày, từ ngày 14/4 đến 23/4, tức từ ngày 1 đến 10/3 năm Canh Dần. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2010 sẽ được tổ chức ở quy mô cấp quốc gia. Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch và Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đang gấp rút chuẩn bị để ngày Giỗ Tổ diễn ra long trọng, hoành tráng và giàu ý nghĩa.

Lễ khai mạc Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng năm nay sẽ gắn với Ngày hội văn hoá, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ 7 năm Canh Dần – 2010, với chủ đề “Linh thiêng đất cội nguồn”. Lễ dâng hương Giỗ Tổ và cúng Trời tại đền Thượng sẽ diễn ra vào 7h00 sáng 10/3 âm lịch (tức ngày 23/4).
Phần lễ sẽ có sự tham gia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ và các đơn vị góp giỗ. Phần hội bao gồm các hoạt động phong phú như: thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh dầy; giao lưu dân ca các vùng miền; rước kiệu của các xã vùng ven di tích về Đền Hùng; bắn pháo hoa tầm cao; triển lãm ảnh tư liệu ngoài trời Các vùng kinh đô Việt Nam”; trưng bày hiện vật về nhà nước Văn Lang, thời đại Hùng Vương; trưng bày hiện vật thời Lý – Trần; triển lãm ảnh tư liệu “Giỗ Tổ Hùng Vương xưa và nay”; triển lãm sách tư liệu “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam”…
Đặc biệt, Lễ hội Đền Hùng năm nay còn có chương trình nghệ thuật đặc sắc hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 Thăng Long – Hà Nội với chủ đề “Kinh đô Văn Lang – Thăng Long – Hà Nội ngàn năm toả sáng”. Song song với đó là chương trình trình diễn màn sử thi võ thuật dân tộc với chủ đề “Hào khí đất Việt”. Các chương trình sẽ được dàn dựng công phu, hoành tráng, sử dụng các kỹ xảo âm thanh, ánh sáng sinh động, toát lên vẻ đẹp và tiềm năng của đất nước, con người Việt Nam.
Dự kiến, Lễ hội Đền Hùng năm nay sẽ thu hút khoảng gần 3 triệu lượt du khách.

Liên hoan “Âm thanh Hà Nội” – 2010: Không chỉ có âm nhạc

LĐ) – 80 nghệ sĩ của 16 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ tham gia giao lưu, biểu diễn tại Liên hoan nghệ thuật “Âm thanh Hà Nội” – 2010 do Học viện Âm nhạc quốc gia VN và Cty sản xuất và phát triển văn hóa M.A.M tổ chức từ ngày 26 – 28.3 tại Trung tâm HCTL Việt Nam ở đường Giảng Võ, Hà Nội.

“Âm thanh Hà Nội” là liên hoan âm nhạc điện tử quốc tế duy nhất tại VN, do nhạc sĩ Trí Minh khởi xướng từ năm 2008. Đây là lần thứ ba liên hoan được tổ chức và đạt kỷ lục so với những năm trước về số người tham gia và các hoạt động trong chương trình (năm đầu chỉ có 15 nghệ sĩ và 800 người tham gia, năm 2009 là 45 nghệ sĩ và 4.000 người).

Điều đặc biệt của chương trình năm nay là các thể loại âm nhạc: Nhạc sống (pop), nhạc thể nghiệm và trình diễn DJ sẽ được trình diễn lần lượt ở các buổi khác nhau để khán giả có thể làm quen và định hình với loại âm nhạc hiện đại này.

Với chủ đề “Không gian xanh” và cũng là một hoạt động nghệ thuật hướng tới đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, bên cạnh những hoạt động về âm nhạc, BTC còn phối hợp với các tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. BTC đã có sáng kiến phát hành vé là những chiếc vòng đeo tay bằng vải, có hình thêu tay, vừa thời trang, vừa như một vật kỷ niệm, đồng thời không xả rác ra môi trường.

Chủ sở hữu chiếc vòng này có thể vào cửa cả 3 ngày liên hoan. Và không chỉ vào “Ngày trái đất” (28.3) mà trong suốt cả 3 ngày liên hoan – vào lúc 20h30, các hoạt động liên quan đến âm thanh, nghệ thuật đều ngừng một thời gian để những thông điệp về môi trường lên tiếng.

“Âm thanh Hà Nội” sẽ diễn ra hằng ngày từ 9h – 23h với các hoạt động trình diễn thời trang, trò chơi, chiếu phim, hội thảo và các buổi diễn âm nhạc tại các sân khấu trong nhà và ngoài trời.

Kết thúc Liên hoan tiếng hát dân ca và những gì còn lại…

Hai đêm chung kết đã khép lại cuộc hành trình hơn ba tháng đầy mầu sắc và ôm chứa những giá trị văn hóa không dễ đo đếm được của Liên hoan tiếng hát dân ca toàn quốc 2005, do Ðài Truyền hình Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và Hội Văn nghệ dân gian tổ chức từ tháng 5-2005.
Có lẽ chưa bao giờ dân ca Việt Nam lại có được một cuộc trình diễn quy mô và hoành tráng như thế. Với mô hình tổ chức gần giống như cuộc hành trình của Sao Mai – Ðiểm hẹn, Liên hoan đã có tám chương trình chung kết được tổ chức tại tám khu vực trong cả nước, và truyền hình trực tiếp vào các tối thứ bảy, từ cuối tháng 5-2005.

Tham gia biểu diễn trong Liên hoan, bên cạnh các nghệ nhân của các vùng miền có độ tuổi từ 20-60, có vốn âm nhạc dân gian rộng và độc đáo, còn có các nghệ sĩ trẻ của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của các địa phương. Từ sân khấu của Liên hoan, Ban tổ chức hy vọng sẽ lựa chọn, sàng lọc được những giọng ca có triển vọng để bồi dưỡng, đào tạo thành những đại diện tiêu biểu cho dòng nhạc dân ca, góp phần đưa dân ca chiếm lĩnh vị trí xứng đáng trong đời sống xã hội.

Gần 700 nghệ nhân, nghệ sĩ đại diện cho 29 dân tộc anh em từ 56 tỉnh, thành trong cả nước đã làm nên một cuộc trình diễn đầy mầu sắc và ấn tượng, giới thiệu với công chúng cả nước những làn điệu dân ca thấm đẫm nhân tình, kết tinh từ những nét văn hóa đặc sắc nhất của đời sống tinh thần mỗi dân tộc. Từ những câu hò, điệu hát ru, điệu lý, các hình thức diễn xướng cộng đồng… các tiết mục biểu diễn trong Liên hoan còn giới thiệu với người xem những nét tiêu biểu trong sinh hoạt văn hóa của mỗi tộc người, thông qua các hình thức sinh hoạt lễ hội, trang phục và nhạc cụ. Liên hoan không chỉ tạo nên một sân chơi sang trọng và hoành tráng cho loại hình dân ca đang có nguy cơ mai một, làm nên một ngày hội biểu dương lực lượng đầy thuyết phục của các giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc, mà còn tạo điều kiện cho các nghệ nhân, nghệ sĩ các vùng, miền giao lưu và tìm hiểu những giá trị độc đáo trong văn hóa của các dân tộc anh em. Trong một xã hội đang hiện đại hóa với tốc độ chóng mặt, thì sự nhiệt tâm, gắng gỏi của những người làm công tác tổ chức là vô cùng đáng quý, đáng trân trọng và cần được tiếp nối, nhân rộng.

Khép lại trong dư âm lưu luyến, rất nhiều câu hỏi đang được “mở ra” đối với những người làm công tác văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống. Ðặt mục tiêu hướng vào giới trẻ, và được ưu tiên phát sóng trong “giờ vàng” của ngày nghỉ cuối tuần, các chương trình trong Liên hoan, ít nhiều đã thu hút được sự quan tâm của dư luận xã hội.

Tuy nhiên, dường như các nhà tổ chức đã quá chú tâm vào vấn đề hình thức biểu diễn, mà chưa thật sự đào sâu những tầng văn hóa ẩn chứa bên trong mỗi làn điệu, lời ca, nên đã sân khấu hóa tất cả các loại hình, đưa tất cả các làn điệu vào chung một sàn diễn với phông màn, nhạc cụ, trong khi dân ca vốn được sản sinh và nuôi dưỡng trong môi trường tự nhiên, gắn bó chặt chẽ và bảo lưu sức sống trong cuộc sống đời thường.

Bổ khuyết vào sự thiếu hụt đó, các nhà tổ chức đã dụng công xây dựng nhiều phóng sự về đời sống thực của các làn điệu, chuyển tải phần nào thông điệp nhân văn từ mỗi loại hình. Người xem có thể vẫn rất trân trọng những nghệ nhân cao tuổi đến từ những miền đất xa xôi, và sẵn sàng đón nhận những thông điệp văn hóa mà họ chuyển tải, nhưng vì trên sân khấu rực rỡ đèn mầu, họ đã không thể hiện được hết sự hồn nhiên, trong sáng và phong thái tự tin vốn có. Sức hấp dẫn, vì thế, chưa hẳn đã tròn đầy.

Ðể làm nên cuộc hành trình hiếm có của mình, các nhà tổ chức Liên hoan đã tìm kiếm, và phát hiện không ít những làn điệu, và các nghệ nhân vốn vẫn còn ẩn khuất sau những thôn làng yên ả. Một cuộc tổng kiểm kê, dẫu chưa trọn vẹn, cũng là rất đáng quý và không phải nơi nào cũng có điều kiện thực hiện được. Nhưng nếu không nhanh tay và cẩn trọng, các địa phương sẽ nhanh chóng để mất những giá trị vừa được khơi dậy, bởi thời gian và sự thờ ơ của con người hiện đại có sức mài mòn, tàn phá ghê gớm các giá trị văn hóa, nhất là văn hóa phi vật thể, vốn tồn tại và phát triển gắn chặt với những tên tuổi nghệ nhân.

Trên cơ sở những kết quả vừa thu được, một chiến lược đầu tư, đào tạo và bảo tồn các làn điệu dân ca, nếu được làm bài bản và chặt chẽ, có tính khoa học, sẽ giúp bảo lưu và phổ biến dân ca đến đông đảo quần chúng. Cũng như những giọng hát dân ca được đánh giá cao tại Liên hoan, nếu được quan tâm chu đáo, có thể trở thành những đại diện tiêu biểu, góp phần nhân rộng sức sống của loại hình âm nhạc lâu đời, giàu sức sống và tiềm ẩn nét đặc trưng dân tộc này.

Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chủ đề 1000 năm Thăng Long – Hà Nội giành giải cao

SGGP – Lễ trao giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2009 đã diễn ra ngày 8-1 tại Hà Nội nhằm tôn vinh các tác giả, tác phẩm xuất sắc nhất ở các loại hình: thanh nhạc, khí nhạc và lý luận.
Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam Đỗ Hồng Quân cho biết: năm nay, Hội nhận được 161 tác phẩm thanh nhạc; 23 tác phẩm khí nhạc; 13 hợp xướng; 13 công trình nghiên cứu lý luận và 3 công trình của nghệ sĩ biểu diễn. Trong đó lĩnh vực thanh nhạc gồm ca khúc, ca khúc thiếu nhi, hợp xướng, ca khúc nghệ thuật vẫn giữ vị trí hàng đầu với đề tài mở rộng, phong phú hơn.
Chủ đề về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được các tác giả đề cập đậm nét. Có thể kể đến các ca khúc như “Trăng về phố” của Lê Mây; “Thăng Long- Hà Nội nhớ” của Tố Hải; “Rạng ngời Hoa Lý- Thăng Long” của Đức Minh; “Rùa vàng ngàn năm” của Vũ Trung; giao hưởng “Thăng Long ngàn năm bừng sáng” của Nguyễn Tiến; “Thăng Long” của Nguyễn Kiên Cường…
Bên cạnh chủ đề Thăng Long- Hà Nội, đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng được nhiều tác giả hưởng ứng. Có thể kể đến tác phẩm “Học tập Bác Hồ” của Phạm Minh; “Một lần bên Bác” của Phạm Đăng Khương phổ thơ Trần Thế Tuyển; “Trường Sa âm vang lời Bác” của Trương Quan Lục phổ thơ Nguyễn Ngọc Trạch…
Giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2009 có 5 giải nhất, trong đó có 3 giải Nhất dành cho ca khúc. Đó là ca khúc “Dời đô – Ngàn năm vang mãi” của Nguyễn Tiến; romance “Giấc mơ mùa lá” của Trần Mạnh Hùng và romance “Dòng trăng lúng liếng” của Ngô Quốc Tính. Nhạc sĩ trẻ Trần Mạnh Hùng còn giành một giải Nhất với giao hưởng thơ “Lệ Chi viên” ở thể loại khí nhạc. Công trình nghiên cứu “Ca nhạc bài chòi, ca nhạc kịch hát bài chòi” của tác giả Trương Đình Quang giành giải Nhất loại hình lý luận.
Ngoài ra Hội Nhạc sĩ Việt Nam còn trao 9 giải Nhì, 28 giải Ba, 21 giải Khuyến khích và 4 tặng thưởng cho các tác giả đoạt giải.
Ca khúc “Dời đô – Ngàn năm vang mãi” của nhạc sĩ Nguyễn Tiến được viết dựa trên âm điệu hào hùng, mạnh mẽ của nghệ thuật tuồng truyền thống, thể hiện hào khí cha ông. Nhạc sĩ Nguyễn Tiến rất tâm đắc với “Chiếu dời đô” của Thái tổ Lý Công Uẩn, khâm phục tinh thần, ý chí “dời đô” của cha ông ngàn năm xưa để có Thăng Long – Hà Nội 1.000 năm tuổi hôm nay. Ca khúc này đã được chọn biểu diễn trong đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội sắp tới.
“Giấc mơ mùa lá” là hoài niệm một thời về Hà Nội cổ kính, trải qua đạn bom, khói lửa của tác giả trẻ Trần Mạnh Hùng. Anh viết ca khúc này dành tặng cho người vợ thân yêu của mình là ca sĩ Hồng Vy. Ca khúc này cũng xuất hiện trong album nhạc 10 ca khúc về Hà Nội của ca sĩ Hồng Vy sẽ ra mắt trong năm 2010. Tác giả trẻ Trần Mạnh Hùng hiện là giảng viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Giải thưởng Hội nghệ sĩ sân khấu năm 2009

Ngày 31/3/2010, Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam tổ chức trao giải thưởng Sân khấu thường niên tại Trung tâm Triển lãm Vân Hồ. Tham dự buổi lễ có nhà văn Kim Cuông, NSƯT Nguyễn Ngọc Trúc, đại diện các ban ngành, đơn vị, cá nhân được giải. 

Danh sách Khen thưởng những vở diễn Sân khấu; Ấn phẩm, Sách – Nghiên cứu – lý luận – năm 2009

I. Giải A: (Kèm theo 13.000.000 đồng cho mỗi giải)

 

TT TÊN VỞ DIỄN THỂ LOẠI TÁC GIẢ ĐẠO DIỄN ĐƠN VỊ
1. Trọn đời trung hiếu với Thăng Long Cải lương Phạm Văn Quý Hoàng Quỳnh Mai Nhà hát Cải lương Việt Nam
2. Linh khí Hoa Lư Chèo Bùi Vũ Minh NSND Lê Hùng Nhà hát Chèo Ninh Bình
3. Chiến trường không tiếng súng Chèo Phạm Văn Quý NSƯT Lê Huệ Nhà hát Chèo Nam Định
4. Mẹ và người tình Kịch nói Lê Chí Trung Minh Nhí Công ty cổ phần Sân khấu Điện ảnh Vân Tuấn CORP
5. Nỏ thần Kịch nói Lê Duy Hạnh Đỗ Đức Thịnh Công ty cổ phần Sân khấu Điện ảnh Vân Tuấn CORP
6. Mỹ nhân và Anh hùng Kịch nói Chu Thơm NSND Lê Hùng Nhà hát Kịch Việt Nam
7. Dời đô Cải lương Lê Duy Hạnh NSƯT Giang Mạnh Hà Đoàn Cải lương Đồng Nai
8. Trở về miền nhớ Cải lương Lê Duy Hạnh NSND Doãn Hoàng Giang – Trần Thắng Vinh Đoàn Cải lương Đồng Tháp
9. Một cây làm chẳng nên non Dân ca Nguyễn Đăng Chương NSND Xuân Huyền Tr.tâm bảo tồn và phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ
10. Hồn Việt Tuồng NSND Lê Tiến Thọ Đoàn Thanh Tâm NSƯT Hoàng Ngọc Đình Nhà hát Tuồng Đào Tấn

 II. Giải B: (Kèm theo 10.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN VỞ DIỄN THỂ LOẠI TÁC GIẢ ĐẠO DIỄN ĐƠN VỊ
1. Đế đô sóng cả Cải lương Triệu Trung Kiên Triệu Trung Kiên Nhà hát Cải lương Việt Nam
2 Đại thần Thăng Long Cải lương Nguyễn Anh Biên  NSƯT Trần Quang Hùng Nhà hát Cải lương Hà nội
3 Bến nước Ngũ Bồ Cải lương Hoàng Công Khanh Lê Nguyên Đạt Trường Đại học Sân khấu Điện Ảnh TP.HCM, Nhà hát thế giới trẻ
4 Cổ tích thời hiện đại Cải lương Lê Duy Hạnh NSƯT Trần Ngọc Giầu Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang
5. Cờ nghĩa Giồng Sơn Quy Cải lương Huỳnh Anh Tấn Lộc Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
6. Mẹ của chúng con Cải lương Lê Thu Hạnh  NSƯT Trần Ngọc Giầu Đoàn Cải lương Tây đô Cần Thơ
7. Rừng quả đắng Kịch Hà Đình Cẩn  Cố NSƯT  Khánh Vinh NSƯT Hoàng Mai –            Quốc Trị Đoàn kịch nói quân đội
8. Ai sợ ai Kịch Lê Bình  NSƯT Chí Trung Nhà hát tuổi trẻ
9. Trên cả trời xanh Kịch Nguyễn Mạnh Tuấn  NSƯT Trần Ngọc Giàu Nhà hát Kịch Việt Nam
10. Điện thoại di động Kịch Nguyễn Quang Lập NSND Hoàng Dũng Nhà hát Kịch Hà nội
11. Bản hùng ca linh thiêng Kịch Xuân Đức Cao Hạnh NSND Doãn Hoàng Giang Đoàn Kịch nói quân đội
12. Ông Bà Vú Kịch Vương Huyền Cơ Hữu Lộc Công ty TNHH Nụ cười mới
13. Dòng nhớ Kịch Ngô Phạm -Hạnh Thúy  Ngô Phạm Hạnh Thúy Công ty cổ phần dịch vụ truyền thông quảng cáo Sài Gòn phẳng
14. Mảnh gương nhân sự Chèo Nguyễn Đình Nghị Hà Quốc Minh Nhà hát Chèo Việt Nam
15. Hùng ca Bạch Đằng Giang Chèo Nguyễn Khắc Phục  NSND Doãn Hoàng Giang Đoàn Nghệ thuật tổng cục hậu cần
16. Danh chiếm bảng vàng Chèo Trần Đình Ngôn  NSND Bùi Đắc Sừ Đoàn Nghệ thuật Chèo, Ca Múa Nhạc

Bắc Giang

17. Ngọc Hân Công chúa Chèo Cố Tác giả Lưu Quang Vũ NSƯT Trịnh Thúy Mùi Nhà hát Chèo Hà nội
18. Bát Nàn tướng quân Chèo Hà Văn Cầu  NSND Doãn Hoàng Giang Nhà hát Chèo Thái Bình
19. Chí sĩ Trần Cao Vân Tuồng Lê Duy Hạnh Trương Tuấn Hải Nhà hát truyền thống Cung đình Huế
20. Thời con gái đã xa Dân ca Bài chòi Nguyễn Thu Phương NSƯT Hoài Huệ Đoàn ca kịch Bài Chòi Bình Định
21. Sóng dậy Lê Triều Tuồng Nguyễn Sĩ Chức NSND Ngọc Phương Nhà hát Nghệ thuật truyền thông Khánh Hòa
22. Dời đô Tuồng Lê Duy Hạnh – Phạm Ngọc Sơn           Cao Đình Liên Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh

 III. GIẢI CHO ẤN PHẨM, SÁCH NGHIÊN CỨU – LÝ LUẬN. 

 1. Giải A: (Kèm theo 7.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Đào Tấn Vũ Ngọc Liễn Bình Định

2. Giải B: (Kèm theo 5.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Chầu đôi Trúc Tôn Phạm Phú Tiết Bình Định
2 Cuốn theo kịch trường Cố NSƯT Vũ Hà Hà nội
3 Kịch nói TP. HCM – Một chặng đường lịch sử Nguyễn Văn Thành Hà nội

3. Giải C: (Kèm theo 4.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Mỹ thuật Chèo truyền thống NSƯT Dân Quốc Hà nội
2. Lịch sử Cải lương Tuấn Giang Hà nội
3. Mấy vấn đề công chúng của Nghệ thuật Sân khấu Nguyễn Phan Thọ Hà nội
4. Tính dân tộc trong Kịch nói VN Hà Diệp Hà nội

      4. Giải Khuyến khích: (Kèm theo 3.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Nghệ thuật Múa Rối cổ truyền đất Thăng Long Văn Học Hà nội

 

Danh sách Khen thưởng những Kịch bản Sân khấu năm 2009

I. Không có giải A

II. Giải B:(Kèm theo mỗi giải 15.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Giai nhân và Anh hùng Chu Thơm Hà nội
2. Cờ chuẩn Điện Biên Lê Quý Hiền Hà nội

III. Giải C: (Kèm theo mõi giải 12.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Kẻ sĩ thời loạn Bùi Vũ Minh Hà nội
2 Vua hai ngôi (Kịch bản Cải lương) Hà Nam Quang An Giang
3 Vua điên (Kịch bản Tuồng) Đoàn Thanh Tâm Bình Định

 IV. Giải Khuyến khích: (Kèm theo mỗi giải 7.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Lý Thái Tổ dời đô Đăng Thanh Ninh Bình
2. Thuở ấy một con người Hoài Giao Hà nội
3 Lịch sử có thể đã khác Triệu Trung Kiên Hà nội
4 Góc khuất đời người Vũ Hải Hà nội
5 Người ở lầu son (Kịch bản Chèo) Trần Đình Ngôn Hà nội
6 Lời thề Thanh Hà Đồng Tháp

 V. Giải của Hội đồng Nghệ thuật. (Kèm theo mỗi giải 7.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Giấc mộng Hồ Hoa (Kịch bản Tuồng) Mịch Quang Khánh Hòa

Kết quả Đại hội đại biểu Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam lần thứ VII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam diễn ra từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 12 năm 2009…
Thông tin về Đại biểu:
1. Tổng số Đại biểu chính thức: 511

2. Đại biểu dự bị: 95

3. Tổng số Đại biểu là Đảng viên: 279

4. Đại biểu là Diễn viên: 196

5. Đại biểu là Quản lý:83 đại biểu

6. Đại biểu có trình độ Đại học và trên Đại học:108

7. Đại biểu là Tác giả:55 đại biểu

8. Đại biểu là nhà Lý Luận-Phê bình:13 đại biểu

9. Đại biểu là Đạo diễn: 74 đại biểu

10. Đại biểu là NSUT:151 đại biểu

11. Đại biểu là NSND: 19 đại biểu

12. Đại biểu là nam: 331 đại biểu

13. Đại biểu là nữ: 181 nữ

14. Đại biểu cao tuổi nhất là Nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Tiếp – sinh năm 1924, Nhà hát Cải lương VN.

15. Đại biểu trẻ tuổi nhất: Nghệ sĩ Quế Trân – sinh năm 1981 – Hội SK Tp. Hồ Chí Minh

Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam khóa VII
TT
Họ và tên

1
NSND Lê Tiến Thọ
Chủ tịch Hội
2
NSUT Ngô Đặng Hồng Vân

3
NSUT Giang Mạnh Hà

4
NSUT Lê Đại Chức
Phó Chủ tịch Hội
5
NSND Lê Hùng
Phó Chủ tịch Hội
6
NSUT Trần Ngọc Giàu

7
Nhà viết kịch Lê Duy Hạnh
Phó Chủ tịch Hội
8
NSND Lê Khanh

9
NSUT Nguyễn Ngọc Bình

10
NSND Doãn Hoàng Giang

11
Nhà viết kịch Nguyễn Đăng Chương

12
Đạo diễn Nguyễn Văn Bộ

13
NSND Trần Đình Sanh
Trưởng Ban Kiểm tra
14
NSND Hoàng Dũng

15
Huỳnh Khánh

16
Nhà văn Chu Lai

17
Đạo diễn Trần Minh Ngọc

18
NSND Nguyễn Thị Hoà Bình

19
NSND Nguyễn Trọng Khôi

20
NSUT Trần Nhượng

21
NSND Bùi Đắc Sừ

Đại hội đại biểu Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam lần thứ VII

Đại hội lần thứ VII – Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày (8 và 9/12/2009). Hơn 500 đại biểu đại diện cho 2.500 hội viên Hội Nghệ sỹ sân khấu trong cả nước cùng hội tụ về Thủ đô. Cùng với việc nhìn nhận lại những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ 2004 – 2009, nhiều vấn đề “nóng” cần giải quyết để phát triển nền sân khấu nước nhà trong thời kỳ tới được các đại biểu tham gia đại hội bàn luận sôi nổi.

Phát triển nền sân khấu Việt Nam
Cần đổi mới cả lượng và chất

Làm thế nào để khán giả đến với sân khấu nhiều hơn là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm nhất tạiĐại hội lần thứ VII – Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội
Theo đạo diễn Lê Hoàng, khán giả hiện giờ có quá nhiều sự lựa chọn, họ không còn mặn mà nhiều đối với sân khấu như thời kỳ hoàng kim trước kia nữa. Trong khi đó, thay vì đổi mới mình để phù hợp với khán giả, thì sân khấu Việt Nam hiện nay vẫn đi theo một lối mòn về kịch bản, cách dàn dựng từ nửa thế kỷ trước. Vì thế, trước hết, cần phải đổi mới quan niệm về khán giả và cách thức phục vụ khán giả.

Đạo diễn Lê Hoàng cho rằng: “Trước khi làm vở phải tìm được đối tượng chúng ta phục vụ. Chúng ta đừng đổ lỗi cho khán giả, vì tại sao khán giả TP. Hồ Chí Minh có hàng nghìn điểm vui chơi mà họ vẫn đến sân khấu. Thử làm một vở hay xem, sẽ chật kín khán giả. Như vậy, sân khấu phải đổi mới bắt đầu từ khâu viết kịch bản, và những người lãnh đạo phải chọn được những kịch bản hay, hợp với diễn viên, đơn vị của mình”.

Nghệ sĩ Lâm Quang Tèo – Thường trực Hội đồng nghệ thuật của Công ty cổ phần đầu tư giải trí Phước Sang (TP. Hồ Chí Minh) cũng cho rằng: Hãy để khán giả quyết định sân khấu phải làm gì, chứ không phải ngược lại.

Sự thiếu định hướng trong quản lý văn hóa là điều khiến khán giả ít đến với sân khấu – Đó là ý kiến của nghệ sĩ Nhật Minh – Giám đốc Nhà hát cải lương Hà Nội. Ông Nhật Minh khẳng định: “Không phải tại sân khấu xuống cấp, không phải tại các đoàn kém, vì tất cả mọi thứ đều khá hơn trước, hay hơn trước, kể cả phương tiện, mọi thứ hỗ trợ cho sân khấu hơn trước rất nhiều. Người ta được xem thoải mái phim Hàn Quốc, Trung Quốc thì họ còn đến nhà hát làm gì. Như ở Trung Quốc, họ qui định có giờ chiếu phim ngoại, chứ không triền miên như ta. Hiện nay ở ta có những phim không xem được vì thiếu sự kiểm duyệt, định hướng…”.

Theo ý kiến của NSƯT Trần Minh Ngọc – Phó Chủ tịch Hội Sân khấu TP. HCM, một trong những điều làm nên sức hấp dẫn của sân khấu là sự phong phú về hình thức thể hiện. Tuy nhiên, ông cho rằng, cần thẳng thắn nhìn nhận nguyên nhân của tình trạng sân khấu hiện nay chưa thu hút được khán giả là do tư duy của nhiều tác giả sân khấu vẫn mang nặng tính giáo điều, tính bác học, trong khi đó lại thiếu đi yếu tố của đời thường, của cuộc sống hiện tại.
“Ở các nước thì tác giả sân khấu phải là nhà văn. Yếu tố đầu tiên để làm nên một tác phẩm là kịch bản, mà kịch bản phải được các nhà văn thể hiện. Vì tính chất của sân khấu ngoài tình tiết còn có tính văn học, nhân văn đi vào lòng người. Còn ở ta, chất văn học hiện nay còn yếu, nhất là trong ca kịch” – NSƯT Trần Minh Ngọc nêu ra.

>> Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành nhiệm kỳ 2009-2014 với 21 thành viên. NSND, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Lê Tiến Thọ được bầu làm Chủ tịch Hội; 3 Phó Chủ tịch là: Nhà viết kịch Lê Duy Hạnh, NSND Lê Hùng và NSƯT Lê Chức.
NSND Trần Tiến hoan nghênh các sân khấu thể nghiệm và cho rằng cần phải mở rộng “sân chơi” này ra, chứ không bó gọn ở một nơi nào đó. Vì sân khấu thể nghiệm là dành cho giới trẻ. Sân khấu phải đổi mới theo thị hiếu của khán giả trẻ. Hình thức như thế nào còn phụ thuộc vào người làm. Nên làm thường xuyên, hàng năm chứ đừng làm một đợt rồi thôi.

Tại đại hội, nhiều đại biểu cũng nhất trí rằng: Trong tương lai, để phát triển, nền sân khấu Việt Nam sẽ phải có một sự đổi mới nhất định cả về lượng và chất. Theo NSND Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL, sân khấu Việt Nam cần phải được xã hội hóa mạnh mẽ và có sự đầu tư để xây dựng thương hiệu của sân khấu Việt Nam. Có như thế, sân khấu Việt Nam mới phát triển bền vững trong tương lai./.
Mai Hồng – Mai Lan

Đoàn chèo Hải Phòng ra mắt vở diễn mới

Đoàn chèo HP vừa ra mắt khán giả vở diễn mới “Những đứa con oan nghiệt” của tác giả NSND Doãn Hoàng Giang; đạo diễn NSND Xuân Huyền; âm nhạc Hạnh Nhân; chỉ đạo nghệ thuật Hoàng Mai.
Vở diễn “Những đứa con oan nghiệt” được bắt đầu với câu chuyện tướng cướp Tư Chớp bí mật đánh tráo đứa con ruột của mình lấy con người thầy đồ với mong muốn mình sẽ có một đứa con ham học, sáng đường công danh sự nghiệp. Nhưng Đức – đứa con được Tư Chớp nâng niu, hy vọng lớn lên vẫn trở thành một kẻ độc ác, bất nhân, mang bản chất của một kẻ cướp liều lĩnh. Nhân – con ruột của Tư Chớp – sống trong sự nuôi dạy nghiêm cấm của thầy đồ trở thành một chàng trai thông minh, giàu lòng nhân áiiiiCả Nhân – Đức và Long – con trưởng của Tư Chớp đều đem lòng yêu mến Hạnh – cô thôn nữ xinh đẹp, dịu dàng. Nhân đỗ Trạng nguyên, muốn xin cưới Hạnh làm vợ; ghen ghét và hũng hãn, Long giết chết Nhân – người em ruột của mình mà không hay biết.
“Những đứa con oan nghiệt” là một tác phẩm sân khấu có tính giáo dục sâu sắc, với triết lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” môi trường sống và giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.Sự nuôi dạy bằng tình yêu và lòng nhân hậu là phương pháp tốt nhất để mỗi con người trưởng thành có phẩm chất và tâm hồn cao đẹp./.
Administrator Account

Bước tiến mới của Đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc

Chúng tôi đến đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc trong không khí sôi nổi, bận rộn, các diễn viên của đoàn đang luyện tập các tiết mục dân ca đón Xuân. Chị Nguyễn Thị Thơm, Trưởng đoàn cho biết: “Năm nào cũng vậy, cứ truớc Tết Nguyên Đán một tháng là đoàn lại chuẩn bị cho các chương trình dân ca, kịch ngắn… phục vụ nhân dân đón Xuân. Năm nay, đoàn mời các nghệ sĩ nhà hát Chèo Trung ương về dàn dựng chương trình…”. Cả buổi chiều, các tiết mục được dàn dựng và chỉnh sửa theo yêu cầu của đạo diễn. Cảnh dựng, nhạc cụ và trang phục được đầu tư khá đầy đủ, các nghệ sĩ luyện tập hết mình như đốt cháy cả không gian nhỏ hẹp của hội trường trụ sở.
Tâm sự với các nghệ sĩ trong đoàn, chúng tôi được biết thêm về những khó khăn, vất vả của đoàn. Để có được những tiết mục hay, hấp dẫn phục vụ khán giả trong dịp Xuân và các lễ hội, mỗi nghệ sĩ trong đoàn phải chịu khó luyện tập, tập đi tập lại nhiều lần, hầu như họ không có ngày nghỉ. Tập đến khi nào đạo diễn cảm thấy ổn thì mới dừng. Những giọt mồ hôi rơi xuống vẫn không hề làm giảm đi sự nhiệt tình, đam mê của các nghệ sĩ. Chị Nguyễn thị Lệ Thuý, nghệ sĩ Đoàn Chèo cho biết: “Được cống hiến cho công chúng những vở diễn hay và độc đáo là niềm vui của nghệ sĩ chúng tôi. Chính vì vậỵ, mỗi tiết mục phải đòi hỏi dày công luyện tập và có trách nhiệm với chính nó”.

Đoàn nghệ thuật Chèo tiền thân là đoàn cải lương Vĩnh Phúc, đến năm 2005 mới chính thức đổi tên. Theo như chị Thơm, Truởng đoàn: “Vì nhu cầu thưởng thức của quần chúng, Vĩnh Phúc lại mang hơi thở của vùng Trung du Bắc Bộ nên chúng tôi muốn công chúng cảm nhận hơi thở ấy qua nhiều vở diễn do Đoàn dựng như: “Lời ru hai người mẹ”, “Trang chủ Sơn Đông”… Qua đó, khán giả sẽ cảm nhận về lịch sử vùng đất và con người Vĩnh Phúc. Nhớ lại, những năm tháng mới thành lập, đoàn còn gặp vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất, yếu tố con người; những vở diễn và nhiều tiết mục ngắn không có kinh phí nên không được đầu tư, trang phục diễn cho các diễn viên còn thiếu. Cả đoàn có vài diễn viên, những buổi biểu diễn rời rạc, nghèo nàn… không thu hút khán giả.

Đến năm 2005, khi chuyển thành Đoàn nghệ thuật Chèo Vĩnh Phúc, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở VH, TT&DL đã đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Đoàn một cách khang trang hơn, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010. Năm 2009, nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho đoàn hơn 3 tỷ đồng, đoàn có nguồn doanh thu biểu diễn và thu khác là 77 triệu đồng. Hiện nay, đoàn có 46 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 30 diễn viên. Đoàn đã dựng được nhiều vở diễn hay như: “Hoa khôi dạy chồng”, “Trang chủ Sơn Đông”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Biển khổ”… Nhiều vở diễn được đầu tư kinh phí; diễn viên, nhạc công cũng được đầu tư về nhạc cụ, trang phục… Nhiều vở diễn đã đoạt giải cao. Vừa qua, đoàn đã đạt được 2 Huy chương vàng và 2 huy chương bạc trong Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc tại Quảng Ninh.

Khi đoàn dựng vở “Trang chủ Sơn Đông” của tác giả Trần Đình Ngôn đã đầu tư rất nhiều về kinh phí, thời gian dàn dựng, trang thiết bị cảnh trí, phục trang và đạo cụ. Vở chèo có nội dung khá hấp dẫn, nói về công lao của tướng Trần Nguyên Hãn – anh hùng dân tộc Việt Nam, người có công lao to lớn trong chiến dịch Chi Lăng Xương Giang, được người đời ban tặng 4 chữ lớn “Khai Quốc Nguyên Huân” (công đầu mở nước)… từ đó người Vĩnh Phúc hiểu thêm về lịch sử đất mình và các tỉnh bạn cũng hiểu thêm về văn hoá mảnh đất của mình. Vở “Hoa khôi dạy chồng” của tác giả Đoàn Hoàng Giang, đạo diễn Bùi Đắc Sừ cũng được đoàn đầu tư cả về kinh phí, nội dung lẫn hình thức, với diễn xuất tốt đã phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhân dân các xã miền núi trong tỉnh.

Với tổng số 110 buổi, trong đó có 90 buổi phục vụ nhân dân các xã miền núi; 10 buổi phục vụ các ngày lễ lớn; 2 buổi phục vụ đối ngoại, giao lưu và 8 buổi có doanh thu. Số lượt người xem khoảng 150.000 lượt người, các vở diễn của đoàn không chỉ phục vụ vùng đô thị mà chủ yếu phục vụ nhân dân các làng, xã vùng sâu, vùng xa… đã đón nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội.

Nguyễn Thu Thuỷ

Đoàn nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang 50 năm xây dựng và trưởng thành

Đoàn Nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang tiền thân là Đoàn nghệ thuật Chèo Sông Thương, được thành lập từ tháng 6 năm 1959. Năm mươi năm qua, dù phải trải qua bao thăng trầm gian nan vất vả, Đoàn vẫn vững vàng vượt khó đi lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tin yêu giao phó, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước, vào sự nghiệp bảo tồn và phát triển bộ môn nghệ thuật Chèo truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc.

Khi mới thành lập, Đoàn đã mời các nghệ nhân Nhà hát Chèo Trung ương về truyền dạy, rồi được bổ sung diễn viên, nhạc công có kiến thức cơ bản để dàn dựng những vở chèo ngắn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, cổ vũ thi đua lao động sản xuất, bài trừ tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu của chế độ cũ. Đó là các vở: “Hương lúa tình quê”, “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”, “Mối tình Điện Biên”, “Tiến lên phía trước”, “Cho đẹp quê ta”… Những năm tiếp theo, Đoàn dàn dựng những vở chèo truyền thống dài như: “Suý Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”. Việc dàn dựng và biểu diễn thành công các vở diễn lớn đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng của Đoàn trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện hoạt động. Hành trang vào nghề của Đoàn lúc bấy giờ còn rất thô sơ, nghèo nàn (4 chiến xe ba gác, 4 chiếc đèn măngxông, không có tăng âm tiếng nói, phông màn được may bằng vải thô, một số phục trang cũ được dùng cho nhiều vở diễn), chế độ bồi dưỡng biểu diễn cho diễn viên, nhạc công, kỹ thuật không có. Vậy mà nghệ sĩ vẫn nhiệt tình, say đắm với nghề, ánh đèn măngxông vẫn luôn rực sáng, tiếng trống chèo vẫn rộn rã khắp các làng quê từ vùng cao Sơn Động đến các nông-lâm trường Lục Nam, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà… Nhiều nơi, do đường đèo nhỏ xe cải tiến không đi được, lãnh đạo đoàn và các nghệ sĩ lại phải khiêng vác đạo cụ, cảnh trí, xoong nồi cấp dưỡng vào điểm diễn để tổ chức phục vụ nhân dân.

Chương trình biểu diễn của Đoàn trong giai đoạn này, ngoài những vở chèo dài còn có những ca cảnh, những bài hát mới, dân ca quan họ, những điệu múa dân gian để phục vụ nhu cầu đa dạng của khán giả. Năm 1962, tại Hội diễn tổng hợp 9 tỉnh được tổ chức tại Thường Tín (Hà Tây), Đoàn đã tham dự với hai vở chèo “Tiến lên phía trước” (tác giả Minh Châu, đạo diễn Bá Lưu) và “Ba anh em họ Điềm” (tác giả Lê Dân, đạo diễn Nguyễn Vinh). Cả hai vở đều được Hội diễn đánh giá khá cao về nội dung và chất lượng nghệ thuật.

Năm 1963, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, hai đoàn nghệ thuật Chèo của hai tỉnh được sáp nhập và đổi tên thành Đoàn nghệ thuật Chèo Hà Bắc.
Lúc này, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đang bước vào giai đoạn gay go ác liệt. Thi hành chỉ thị của UBND tỉnh và Ty Văn hoá-Thông tin, Đoàn đã phải đi sơ tán ở nhiều nơi, chia thành nhiều tốp xung kích với những tiết mục ngắn gọn, nhanh chóng có mặt ở những nơi giặc Mỹ đánh phá để biểu diễn động viên, cổ vũ cho tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân. Tiếng hát chèo của quê hương Bắc Giang lại cất lên giữa làn mưa bom bão đạn, động viên các chiến sĩ vững thêm tay súng, làm dịu bớt nỗi đau mất mát hy sinh. “Tiếng hát át tiếng bom” của các nghệ sĩ đã hoà cùng phong trào thi đua trong cả nước, thể hiện niềm tin vào chiến thắng, vào tương lai tươi sáng của cả dân tộc.
Đêm biểu diễn, ngày lao động làm cỏ, gặt lúa giúp dân, các nghệ sĩ đi đến đâu cũng được dân nhớ, dân thương. Nhiều nghệ sĩ của đoàn được nhân dân ghi nhớ cho tới bây giờ, như: Văn Thành, Huy Bái, Văm Thơm, Đăng Nhật, Diễm Loan, Dương Lễ, Lê Phan, Hữu Luận, Thuý Tình, Thu Hiền, Thuý Lan, Văn Khách, Thanh Hải, Khánh Tuyên…
Chương trình biểu diễn của Đoàn trong thời kỳ này là các vở diễn: “Nguyễn Văn Bé”, “Cô gái Long Châu Sa”, “Tình quân dân”, “Làng Thương”, “Cai Tranh đốt quán”, “Trên đồi pháo”… cùng với những ca khúc, điệu múa phù hợp với nhịp độ sôi động vừa chiến đấu vừa sản xuất của nhân dân. Bên cạnh những tiết mục ngắn, Đoàn còn dàn dựng những vở diễn dài như: “Tiếng hát làng Pơ Rao”, “Lứa tuổi xuân”, “Dòng phù sa”, “Tấm Cám”…
Năm 1970, tuy chiến tranh vẫn ác liệt nhưng Đoàn vẫn dàn dựng tiết mục để phục vụ nhân dân và tham gia hội diễn tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh) vở: “Tiếng làng PơRao” (tác giả Ngô Quang Thắng; Nguyễn Hữu Luận chuyển thể và đạo diễn). Vở diễn đã gây xúc động, chiếm được tình cảm của người xem.
Năm 1971, theo tiếng gọi của tiền tuyến, tỉnh Hà Bắc đã thành lập Đội văn công xung kích vào chiến trường phục vụ các chiến sĩ. Nhiều nghệ sĩ của đoàn, như Lê Phan, Hữu Luận, Khánh Tuyên, Hoàng Linh, Minh Chính, Hồng Thắm… đã xung phong vào Đội, lên đường ra tiền tuyến. Các anh, các chị đã vượt bom đạn, mang tiếng hát, mang nghĩa tình sâu nặng của quê hương Bắc Giang tới nơi chiến trường rực lửa để động viên các chiến sĩ. Kết thúc đợt diễn, Đội Văn công xung kích đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, được Bộ Tư lệnh chiến trường 559 và UBND tỉnh Hà Bắc tặng Bằng khen. Và trong những năm hào hùng ấy, nhiều cán bộ, nghệ sĩ của Đoàn đã xung phong lên đường nhập ngũ. Có những đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khói lửa. Các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu lại trở về tiếp tục mang tài năng nghệ thuật của mình chung lòng xây dựng đoàn ngày một trưởng thành.
Thời kỳ 1975-1990, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đoàn Chèo Hà Bắc bước vào tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, dàn dựng nhiều vở diễn cổ vũ cho công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, như: “Dòng phù sa”, “Chàng rể bố vợ”, “Những người nói thật”…
Năm 1980, tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, Đoàn Nghệ thuật Chèo Hà Bắc lại gây được sự chú ý của ngành chèo và sự yêu mến của khán giả thủ đô Hà Nội bằng vở diễn “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” (tác giả Đào Thiệm, đạo diễn Trần Bảng). Đoàn đã biểu diễn tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, diễn ba đêm liền tại Nhà hát lớn thành phố, báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo Bộ Văn hoá, Hội sân khấu Việt Nam và nhiều đêm diễn liên tục tại các rạp hát Thủ đô, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh phòng không không quân và nhiều đơn vị khác.
Cùng với vở “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ”, Đoàn đã dựng vở “Nguyên Phi Ỷ Lan”, “Học sỹ Nguyễn Cao”, “Ngọn cờ đại nghĩa”, “Tiếng hát đưa nôi”, “Hoàng tử Pôn Na Vông”, “Những người nói thật”, “Những đứa con oan nghiệt”… Ở mỗi vở có sự thành công khác nhau, nhưng tất cả đều bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Nhà nước và địa phương, đó là: giáo dục tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi những tấm gương anh hùng cách mạng, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ca ngợi tình đoàn kết gắn bó thuỷ chung “Vừa là đồng chí, vừa là anh em” của các dân tộc Đông Dương; ca ngợi những con người dám nghĩ, dám làm đưa quê hương ngày thêm giầu đẹp; đồng thời phê phán mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu làm ảnh hưởng đến bước tiến chung của toàn xã hội.
Năm 1988, Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh), Đoàn đã tham dự với vở “Oan trái làng Tằm”, tác giả Xuân Hồng- Trần Minh, đạo diễn Ngọc Phương, biên đạo múa NSND Trần Minh.
Từ năm 1988 đến năm 1995 là thời kỳ đã để lại ấn tượng sâu sắc, khó quên trong cuộc đời làm nghề của các nghệ sĩ tỉnh Hà Bắc. Thời kỳ đầu, do chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường nên các đoàn nghệ thuật đều gặp khó khăn, bế tắc. Tỉnh Hà Bắc có bốn đoàn nghệ thuật (đoàn Nghệ thuật Tuồng, đoàn Chèo, đoàn Kịch nói, đoàn Dân ca Quan họ) hầu như đều phải ngừng hoạt động.
Đứng trước thực trạng đó, Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao đã có đề án củng cố xếp sắp lại bộ máy tổ chức của các đoàn nghệ thuật, trình UBND tỉnh ra Quyết định tinh giảm biên chế, từ bốn đoàn chỉ để lại hai đoàn (Đoàn Nghệ thuật Chèo và Đoàn Dân ca Quan họ).
Ba đơn vị Kịch, Tuồng, Chèo được hợp nhất thành Đoàn nghệ thuật Chèo, trong đó nòng cốt là cán bộ diễn viên của Đoàn nghệ thuật Chèo. Từ 130 cán bộ nhân viên của ba đơn vị và đội xe máy phải giảm biên chế chỉ còn 31 người. Một số diễn viên xuất sắc của đoàn Tuồng, đoàn Kịch nay chuyển sang làm diễn viên Chèo quả là một khó khăn.
Sau khi củng cố tổ chức, Đoàn đã nhanh chóng tổ chức tập huấn chuyên môn và bắt tay dàn dựng lại các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chinh phụ hai chồng” và “Đôi ngọc lưu ly”. Cuối năm 1993, Đoàn đã thành lập một đội gồm 16 cán bộ, diễn viên, nhạc công vào biểu diễn phục vụ cán bộ và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh…
Cũng trong giai đoạn này, Đoàn đã xây dựng chương trình tham dự thi Tiếng hát Chèo hay toàn quốc (1992) tại Hải Dương và tham dự thi các trích đoạn chèo, tuồng hay toàn quốc (1993) tại Ninh Bình. Cả hai cuộc thi, Đoàn đều đoạt được những thành tích cao với 6 Huy chương vàng, 5 Huy chương bạc và được Bộ VHTT tặng Bằng khen, trong đó có cả những diễn viên chèo mới cũng được Huy chương bạc.
Năm 1992, 1993 Đoàn được tặng Bằng khen của Bộ VHTT, Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam, UBND tỉnh Hà Bắc, UBND tỉnh Tây Ninh.
Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Đoàn được đổi tên là Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Bắc Giang.
Ý thức được đầy đủ vinh dự và trách nhiệm lớn lao của mình, Ban lãnh đạo đoàn đã nhanh chóng xây dựng đề án Đoàn vẫn tiếp tục định hướng kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, khai thác đề tài lịch sử viết về những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá của địa phương, phát huy thế mạnh của mảng chèo dân gian, bên cạnh đó vẫn dàn dựng những đề tài hiện đại làm cho chương trình nghệ thuật của đoàn thêm đa dạng, phong phú phục vụ được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mọi tầng lớp khán giả. Từ quan điểm chỉ đạo trên, những năm gần đây dàn kịch mục của đoàn đã có nhiều vở diễn được công chúng mến mộ như: “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Phò mã Thân Cảnh Phúc”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Lời ru hai người mẹ”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chuyện tình sau chiến tranh”, “Nước mắt tuổi thơ”, “Gươm báu truyền ngôi”… Bên cạnh những vở dài, hàng năm Đoàn còn dựng một số các trích đoạn chèo ngắn, chương trình ca nhạc dân gian để phục vụ khán giả, phục vụ các chương trình giao lưu nghệ thuật, phục vụ các đoàn khách Trung ương, tỉnh bạn về thăm và làm việc với Bắc Giang.
Điều đáng mừng là bên cạnh lớp diễn viên thế hệ đi trước đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT như Hồng Tính, Trần Thông, Thanh Nhàn, Hương Quế, và các nghệ sỹ xuất sắc như Xuân Hậu, Thanh Hải… Đoàn có một dàn diễn viên trẻ như Mạnh Lẫm, Quỳnh Mai, Thanh Hường, Anh Tuấn, Lệ Xuân, Đình Hưng, Hoàng Chung, Anh Quân, và những nhạc công như Tiến Mạnh, Văn Tuyên… đã nhanh chóng trưởng thành, đạt được nhiều thành tích cao trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao.
Năm 2001, tại Liên hoan Sân khấu chèo truyền thống tổ chức tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), dàn diễn viên trẻ của đoàn đã gây được ấn tượng tốt đẹp trước toàn thể bạn nghề của làng Chèo cả nước và của Ban Giám khảo hội diễn qua vở “Suý Vân”. Nghệ sỹ trẻ Quỳnh Mai đã được tặng hai giải thưởng, 01 Huy chương vàng và giải Nghệ sỹ múa đẹp nhất.
Năm 2002, tại Hội thi “Hát Dân ca” các tỉnh Trung du đồng bằng Bắc Bộ do Bộ VHTT tổ chức, một lần nữa các nghệ sỹ trẻ lại khẳng định được tài năng của mình, với 05 tiết mục dự thi Đoàn đã được Ban Giám khảo tặng thưởng 1 Huy chương vàng toàn đoàn, 3 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc tiết mục.
Năm 2003, với đội hình hơn 40 cán bộ nghệ sỹ, Đoàn đã tổ chức đợt biểu diễn dài ngày với gần 30 đêm diễn trên địa bàn các tỉnh phía Nam, như Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kom Tum-Đắc Lắc và một số các đơn vị lực lượng vũ trang. Chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại những ấn tượng sâu sắc khó quên với cán bộ và nhân dân những nơi đoàn lưu diễn.
Từ năm 1999 đến 2009, năm nào đoàn cũng thực hiện được từ 140 đến 150 đêm diễn trở lên, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Với gần 100 vở diễn, 70 Huy chương vàng, bạc của tập thể và cá nhân trong các kỳ hội diễn từ những năm 1980 trở lại đây, Đoàn đã đươc tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL, UBND tỉnh về thành tích công tác. Năm 2004, Đoàn vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2009 Đoàn vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.
Kế thừa truyền thống 50 năm đầy vẻ vang, tập thể và lãnh đạo, nghệ sỹ đoàn Nghệ thuật Chèo Bắc Giang tâm nguyện sẽ phấn đấu không ngừng, coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân, khuyến khích các tài năng, sáng tạo nhiều vở diễn có giá trị tư tưởng lành mạnh, tính nhân văn sâu sắc và giá trị nghệ thuật cao, quyết tâm xây dựng đoàn Nghệ thuật (Chèo, Ca múa nhạc) Bắc Giang thành.
Ngô văn Trụ – Trần Thông