Vu Lan “Đạo hiếu & Dân tộc” 2017: Lan tỏa gương hiếu hạnh

(Tổ Quốc) – Tối 31/08/2017, Ban Thông tin truyền thông Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức đêm giao lưu văn hóa nghệ thuật với chủ đề “Đạo hiếu & Dân tộc” tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; bà Hà Thị Khiết, nguyên Trưởng Ban Dân vận Trung ương; ông Thào Xuân Sùng- Phó trưởng Ban Dân vận TƯ; Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên; Hòa thượng Thích Gia Quang, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Thông tin truyền thông Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện lãnh đạo các Bộ, Ban ngành và đông đảo Phật tử đã tham dự chương trình.

Phát biểu khai mạc chương trình, Hòa thượng Thích Gia Quang cho biết, chương trình Vu Lan “Đạo hiếu và Dân tộc” năm 2017 được tổ chức nhằm tri ân những người có công với đạo pháp, với đất nước, tri ân những gia đình có công với cách mạng; biểu dương tấm gương hiếu thảo đối với đấng sinh thành, qua đó giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là “đạo hiếu” trong thời đại xã hội hiện nay.

Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên tham dự chương trình
Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên tham dự chương trình

Kể từ năm 2014 đến nay, mỗi năm, Ban tổ chức chọn các chủ đề khác nhau phù hợp với chương trình, cũng như cách thức tổ chức để chương trình cuốn hút hơn, mang lại ý nghĩa xã hội rộng lớn, để lại ấn tượng nhân mùa Vu Lan hiếu hạnh trong cảm nhận và sự sẻ chia của quý nhân dân, tăng ni, phật tử. Trong khuôn khổ tổ chức chương trình Vu Lan “Đạo hiếu & Dân tộc”, Ban tổ chức cũng tôn vinh một số tấm gương đạo hiếu tiêu biểu. Đó là những tấm gương đại diện, là nhân tố để thúc đẩy các hành động và tư tưởng đạo hiếu trong toàn xã hội.

Tọa đàm về "Tứ trọng ân" trong khuôn khổ Chương trình Đạo hiếu
Tọa đàm về “Tứ trọng ân” trong khuôn khổ Chương trình Đạo hiếu

Ngoài những tiết mục ca nhạc đặc sắc tri ân công ơn tiền nhân, mẹ cha, các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước, chương trình còn có tọa đàm về chủ đề “Tứ trọng ân” trong đạo Phật và chữ Hiếu cùng hai khách mời là: Giáo sư Sử học Lê Văn Lan và Thượng tọa Thích Minh Thông, trước đây Thượng tọa là người lính phụ trách truyền tin và dịch công điện cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Người đã dũng cảm bí mật tiết lộ tin cho các chư tăng, kịp thời cứu được hàng nghìn phật tử, tăng ni… thoát khỏi kiếp nạn lịch sử.

Đặc biệt, chương trình đã tôn vinh 10 tấm gương hiếu thảo trên khắp cả nước. Chương trình Vu Lan “Đạo hiếu và Dân tộc” năm 2017 được tổ chức nhằm tri ân những người có công với đạo pháp, với đất nước, tri ân những gia đình có công với cách mạng; biểu dương tấm gương hiếu thảo đối với đấng sinh thành, qua đó giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là “đạo hiếu” trong xã hội hiện nay./.

(Nguồn: Dạ Minh, ảnh: Đình Đạt – Báo Điện tử Tổ quốc, Bộ VHTTDL)

Nhà nước đặt hàng đào tạo 300 sinh viên văn hóa nghệ thuật đặc thù

(Tổ Quốc) -Nhà nước sẽ cấp kinh phí để đào tạo khoảng 300 sinh viên trong một số ngành, chuyên ngành văn hóa nghệ thuật đặc thù, khó tuyển sinh nhưng đang thiếu nhân lực.

Chiều 1/9, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), các bộ ngành liên quan về nhân lực ngành văn hóa nghệ thuật và tình hình đặt hàng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ VHTT&DL.

Chiều 1/9, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), các bộ ngành liên quan về nhân lực ngành văn hóa nghệ thuật và tình hình đặt hàng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ VHTT&DL.

Báo cáo về tình hình thực hiện kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về đặc thù công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Đặng Thị Bích Liên khẳng định: Kết luận của Phó Thủ tướng đã giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc đối với lĩnh vực đào tạo văn hóa nghệ thuật hiện nay, tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo năng khiếu lĩnh vực văn hóa nghệ thuật duy trì hoạt động bảo đảm đáp ứng nhu cầu phát triển ngành. Trong thời gian tới, Bộ VHTT&DL sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục triển khai 7 nhóm nhiệm vụ được giao.

Về vấn đề đặt hàng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật trực thuộc Bộ, bà Lê Thị Thu Hiền, Vụ trưởng Vụ Đào tạo (Bộ VHTT&DL) cho biết, Bộ đang trực tiếp quản lý 16 cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, gồm 2 học viện, 7 trường đại học, 4 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp và 1 viện nghiên cứu. Các cơ sở đào tạo này có những đặc thù như tuyển chọn năng khiếu khắt khe, quy mô đào tạo thấp, đầu tư cơ sở vật chất đắt đỏ, chi phí đào tạo lớn, yêu cầu dạy và học khác biệt, quá trình đào tạo kéo dài…

Trong khi đó, cơ chế chính sách ưu đãi cho học sinh, sinh viên các ngành đặc thù truyền thống dân tộc, dân tộc thiểu số chưa đủ để khuyến khích sinh viên dự tuyển, theo học trong một số ngành; tuổi nghề ngắn, lương thấp… Điều này dẫn đến tình trạng công tác tuyển sinh đối với một số ngành, chuyên ngành đặc biệt khó khăn. “Thậm chí kể cả 3, 4 năm cũng không tuyển được một sinh viên nào”, bà Hiền nói.

Để khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng đào tạo, Bộ VHTT&DL đề xuất giao nhiệm vụ đào tạo gắn với giao kinh phí (hình thức đặt hàng) đối với các cơ sở đào tạo thuộc Bộ. Cụ thể, Nhà nước sẽ trả 100% chi phí đào tạo áp dụng cho đối tượng người học là học sinh, sinh viên thuộc một số chuyên ngành, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật khó tuyển sinh, hiếm, truyền thống và dân tộc, người dân tộc thiểu số. Đây là những ngành mà nhu cầu xã hội không cao nhưng rất thiếu để đáp ứng yêu cầu bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt ở những nơi có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn.

Tại cuộc họp, Bộ VHTT&DL đưa ra danh sách các ngành, chuyên ngành đề nghị đào tạo theo cơ chế Nhà nước đặt hàng như: Ngành sáng tác âm nhạc, lý thuyết âm nhạc, chỉ huy hợp xướng, hội họa, điêu khắc, biểu diễn kịch múa, biểu diễn múa dân gian, biểu diễn chèo, tuồng, cải lương, ca kịch Huế, kịch nói, xiếc và tạp kỹ… với khoảng 300 học sinh, sinh viên.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, việc đặt hàng đào tạo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đặc thù là thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam mới đây. Phó Thủ tướng lưu ý, bên cạnh đặt hàng đào tạo, Bộ VHTT&DL cần tiếp tục làm việc với Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nghiên cứu, đề xuất cơ chế đặt hàng tác phẩm.

Cũng tại cuộc họp này, Phó Thủ tướng đã cho ý kiến xử lý một số kiến nghị của Bộ VHTT&DL như vấn đề thành lập Học viện Múa Việt Nam, chế độ chính sách đối với giảng viên, giáo viên tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật…

Quảng trường Ba Đình – Nơi ghi dấu tích lịch sử

(Tổ Quốc) -Đối với nhiều người dân Việt Nam, Thủ đô Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước, mà Hà Nội còn lưu giữ trong mình rất nhiều địa danh và di tích lịch sử, di tích văn hoá và cách mạng: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hồ Gươm, Tháp Rùa, Gò Đống Đa, Cột cờ Hà Nội, Nhà Hát lớn và Quảng trường Cách mạng Tháng tám… đặc biệt là Quảng trường Ba Đình, nơi 72 năm về trước đã chứng kiến giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc – ngày tuyên bố Độc lập 2/9/1945, nơi cũng đã gắn liền với tên tuổi của vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh.

Mùa thu Tháng tám cách đây tròn 72 năm, dưới ngọn cờ của Đảng cộng sản Việt Nam, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân tộc ta từ Bắc chí Nam triệu người như một đã nhất tề đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn người dân Hà Nội sau khi tham dự mít tinh ở Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố đã rầm rập toả đi các ngả, chiếm các cơ quan, công sở của chính quyền bù nhìn thân Nhật, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Sau khi Cách mạng Tháng Tám đã thành công trong cả nước, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, giữa rừng cờ đỏ sao vàng và giữa rừng người dân Việt Nam vừa mới thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc, thực dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở đông Nam Châu Á.

Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 (trên Lễ đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập- khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa)
Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 (trên Lễ đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập- khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa)

Từ một khu đất còn trống vắng và hoang sơ của Hà Nội cũ dưới thời Pháp thuộc, sau ngày Tuyên bố Độc lập, Quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử của dân tộc ta và trở thành nơi khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam.

Quảng trường Ba Đình trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn gọi là Quảng trường Tròn (Rond Point Puginier) hay còn gọi là Quảng trường  Puginier – tên một cha cố người Pháp. Đó là một khu đất gồm những bãi đất hoang và hồ ao mới lấp bằng, rộng hàng chục héc-ta cạnh Phủ Toàn quyền Pháp.

Khu vực Quảng trường Tròn này trong một thời gian dài hầu như chẳng có gì thay đổi cả. Mặc dù, đã hai lần có hai kiến trúc sư người Pháp là Hebrat và Cerruti  đưa ra kế hoạch tổng thể để cải tạo và quy hoạch lại Quảng trường Tròn. Và sau đó vào năm 1922 và năm 1938, Phủ Toàn quyền Pháp cũng đã có ý định quy hoạch lại Quảng trường Tròn. Song không hiểu vì lý do gì mà các dự án cải tạo Quảng trường Tròn vẫn chỉ nằm trên giấy. Tuy vậy, không phải là không có gì thay đổi.

Vào năm 1930, người Pháp cũng đã cho xây dựng một công trình ở mé Quảng trường Tròn (đầu đường Cột Cờ ngày nay), đó là Nha Tài chính và Trước bạ. Ngôi nhà xây khá đẹp, được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp Cerruti và do Hãng Aviat thầu và thi công. Người Pháp cũng đã dự kiến làm một công viên lớn thuộc khu đất của Quảng trường Tròn và đường Hoàng Diệu. Con đường dự kiến đó trên bản đồ mang tên Rue Paul Doumer (tên một viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương), sau Cách mạng Tháng Tám đổi thành phố Nguyễn Lâm. Như vậy là trong nửa đầu thế kỷ XX, Quảng trường Tròn này chưa có gì đáng chú ý lắm, chung quanh còn có nhiều bãi rộng đầy cát sỏi, hầu như không có cây cối, là những khoảng đất chờ được xây dựng.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Thủ đô Hà Nội tiến hành xoá bỏ những vết tích cũ thời Pháp thuộc. Vì thế, các tên phố phường và vườn hoa, công viên cũng có nhiều sự thay đổi. Quảng trường Tròn này không còn mang tên Cố đạo Puginier nữa mà được gọi là Vườn hoa Ba Đình. Sở dĩ gọi là Vườn hoa Ba Đình hay Quảng trường Ba Đình là để tưởng nhớ cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX do Đinh Công Tráng lãnh đạo.

Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/2015. Mít tinh Kỷ niệm 70 năm cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2/9
Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/2015. Mít tinh Kỷ niệm 70 năm cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2/9

Có phải ngẫu nhiên hay không mà Ban Tổ chức buổi lễ Tuyên bố Độc lập và giới thiệu Chính phủ lâm thời lại chọn Quảng trường Ba Đình, tức là dẫn nó đến một sứ mệnh huy hoàng, làm cho nó trở thành một trong những điểm lịch sử quan trọng của đất nước? Theo yêu cầu của Chính phủ lâm thời hồi đó, Ban tổ chức buổi lễ Tuyên bố độc lập (do mấy người trong Ban Văn hoá cứu quốc phụ trách – Trưởng ban là Phạm Văn Khoa, kiến trúc sư Ngô Huy Huỳnh và hoạ sĩ Nguyễn Đinh Hàm) đi tìm một địa điểm rộng đủ cho một cuộc mít tinh lớn có thể tập trung được mấy chục vạn người. Ban đầu, những người trong Ban Tổ chức định chọn khu Quần Ngựa hoặc Đông Dương học xá, song lại thấy nó quá xa trung tâm thành phố còn địa điểm trung tâm là Quảng trường Nhà hát Lớn thì lại quá chật chội. Vì vậy, cuối cùng, Ban tổ chức đã quyết định chọn Quảng trường Ba Đình, tuy rằng lúc này xung quanh đó vẫn còn những địa điểm như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… vẫn còn những lực lượng thù địch chiếm đóng.

Buổi lễ trọng đại ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Ban tổ chức đặt một bục gỗ cao, chung quanh quấn vải, dán khẩu hiệu, trên bục có một cột cờ. Bục lễ đài chênh vênh giữa trời nắng chang chang tháng Tám.

Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), Phủ Toàn quyền Pháp đã đổi tên Vườn hoa Ba Đình thành Vườn Hoa Hồng Bàng. Năm 1954, khi bộ đội ta về tiếp quản Thủ đô, Dinh Toàn quyền cũ cạnh Quảng trường Ba Đình trở thành Phủ Chủ tịch. Quảng trường Ba Đình là nơi thường xuyên có những cuộc mít tinh lớn trong các ngày kỷ niệm lịch sử hoặc để tiếp đón và chào mừng các phái đoàn quốc tế đến thăm Việt Nam. Vài năm sau, phía bên kia của Quảng trường, Chính phủ ta đã cho xây dựng Hội trường Quốc hội (nay là Hội trường Ba Đình) và cạnh đó sau này là Đài tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh vì nước.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Quảng trường Ba đình cũng là nơi chứng kiến Lễ Truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sau đó không lâu, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chọn Quảng trường Ba Đình làm nơi yên nghỉ vĩnh viễn của Người và quyết định xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vào năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, một công trình kiến trúc lịch sử nữa cũng được ra đời bên cạnh Quảng trường Ba Đình, đó là Bảo tàng Hồ Chí Minh và gần đây nhất là tòa Nhà Quốc hội mới (năm 2015) góp phần làm cho quần  thể khu Lăng thêm hoàn chỉnh và đẹp đẽ.

Như vậy là Quảng trường Ba Đình, trước đó đã có sẵn giá trị là một địa điểm vinh quang, sau hơn nửa thế kỷ đã có thêm Hội trường Ba Đình, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng mang tên Người, rồi Đài tưởng niệm các liệt sĩ vô danh cùng nhiều di tích lịch sử và cách mạng khác đã và đang trở thành một cái tên quen thuộc và thiêng liêng, một niềm tự hào không chỉ của người dân Thủ đô, mà còn là niềm tự hào và vinh quang chung cho nhân dân cả nước. Quảng trường Ba Đình đã, đang và sẽ mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của tất cả chúng ta./.

(Nguồn: Ths. Nguyễn Hữu Giới – Nguyên Chủ tịch Công đoàn Bộ VHTTDL)

Tài năng sân khấu truyền thống: “Chúng em rất yêu nghề nhưng không thể yên tâm cống hiến”

VH- Tài năng trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nghệ thuật sân khấu nói chung và sân khấu truyền thống nói riêng. Nếu không có tài năng trẻ thì không thể có được nguồn lực kế cận đủ khả năng đảm đương gánh vác sứ mệnh bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của cha ông để lại. Tuy nhiên, tài năng trẻ sân khấu truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.

Nhức nhối ở các đoàn địa phương

Bước sang cơ chế thị trường, các tài năng nghệ thuật đến với sân khấu, nhất là sân khấu truyền thống vô cùng hiếm hoi. Sân khấu truyền thống thưa vắng người xem, học nghề vất vả, đòi hỏi phải khổ luyện nhiều và đời sống người nghệ sĩ vô cùng khó khăn. Những người có giọng hát hay nổi bật thường chọn làm ca sĩ vì có thu nhập cao hơn. Chỉ những ai là con cháu trong nghề, am hiểu nghề, yêu nghề từ tấm bé hoặc một số thi trượt các trường khác thì mới “đành” chọn con đường đi vào ngành sân khấu truyền thống, như một cách để “trú chân”. Chính bởi tài năng trẻ hiếm hoi, nên mới có hiện tượng các đơn vị nghệ thuật sân khấu truyền thống phải vất vả, lao tâm khổ tứ đi về các địa phương để tìm kiếm tài năng và thuyết phục họ học, theo nghề; gửi gắm họ tại các cơ sở đào tạo; cho họ chế độ ưu đãi không phải đóng học phí, được cấp học bổng hằng tháng và bố trí chỗ ở; rồi khi họ tốt nghiệp ra trường, lại mất công đào tạo lại họ từ 2-3 năm đối với diễn viên chèo, 3-5 năm đối với diễn viên tuồng (vì chất lượng đào tạo tại các trường chưa đáp ứng được yêu cầu về thực tiễn chuyên môn ở các đoàn, nhà hát).

Vất vả tìm kiếm tài năng, khổ công đào tạo tài năng, nhưng làm thế nào để giữ chân tài năng lại là bài toán còn khó khăn hơn đối với lãnh đạo các đoàn nghệ thuật sân khấu truyền thống. Hiện tượng những tài năng trẻ hiếm hoi được các đoàn dày công tìm kiếm, phát hiện, đào tạo, nhưng sau khi tốt nghiệp, không trở về địa phương theo đúng cam kết; bỏ đoàn này để sang đoàn khác; bỏ nghề để đi làm công việc trái chuyên môn nhằm tìm kiếm cơ hội có thu nhập cao hơn; hoặc không tập trung vào công việc chuyên môn, mà chủ yếu lo mưu sinh bên ngoài… trở thành thực trạng nhức nhối hiện nay ở hầu hết các đoàn nghệ thuật sân khấu truyền thống, nhất là ở các địa phương.

Trích đoạn Trinh phụ hai chồng của Nhà hát Chèo Hải Dương

Trước thực trạng trên, lãnh đạo các đơn vị nghệ thuật sân khấu truyền thống đã phải tìm nhiều cách để giữ chân tài năng trẻ như: cho đóng các vai chính phù hợp với khả năng; bố trí chỗ ở trong khu tập thể của đoàn, nhà hát (do các em mới đi làm, bậc lương còn thấp, không đủ kinh phí để đi thuê nhà hoặc mua nhà); chi trả chế độ bồi dưỡng biểu diễn ngang bằng với các nghệ sĩ đàn anh, đàn chị; tạo điều kiện cho đi làm thêm để tăng thu nhập; đối đãi với các em ân cần, tình cảm, trách nhiệm như đối với con cháu trong nhà…

Đừng trách nghệ sĩ trẻ

Tuy nhiên, những giải pháp trên chỉ mang tính chất đối phó, nhất thời bởi lẽ một năm đơn vị chỉ dựng 1 vở (riêng các nhà hát ở Hà Nội được cấp kinh phí dựng 2 vở) và không thể vở nào cũng giao cho 1-2 diễn viên đó đóng vai chính.

Khu tập thể của các đoàn thường nhỏ bé, chật chội, xuống cấp trầm trọng, số lượng phòng ít, mấy người phải chung một phòng (như ở Nhà hát Chèo VN, có hai gia đình nghệ sĩ trẻ cùng chung một phòng do không đủ kinh phí để đi thuê ngoài) và có đơn vị không có khu tập thể cho diễn viên, khiến diễn viên trẻ thiếu nơi ở ổn định (như trường hợp Đoàn nghệ thuật Tuồng, Chèo, Cải lương Thanh Hóa).

Ở các địa phương, không phải lúc nào cũng có nhiều cơ hội để đi làm thêm những công việc gắn với chuyên môn; và “tình cảm” hết lòng mà lãnh đạo đơn vị dành cho các nghệ sĩ trẻ tài năng không đủ “sức mạnh” để chiến thắng với cuộc sống cơm áo gạo tiền hằng ngày.

Theo NSƯT Thúy Mùi, GĐ Nhà hát Chèo Hà Nội: “Chúng ta đừng trách các nghệ sĩ trẻ, mà cần phải thương yêu các nghệ sĩ trẻ. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các em có rất nhiều cơ hội lựa chọn các ngành nghề khác thu nhập cao hơn. Nhưng các em lại chọn theo đuổi nghiệp diễn viên sân khấu truyền thống đầy khó khăn, vất vả, thiếu thốn. Điều đó chứng tỏ các em vô cùng yêu nghề”.

Còn theo NSƯT Quang Toàn, GĐ Nhà hát Chèo Hải Dương: “Với nguồn ngân sách hạn hẹp để duy trì hoạt động, thậm chí không được cấp kinh phí cho công tác đào tạo, nhưng Nhà hát vẫn cố gắng hết sức để có đội ngũ kế cận vững chuyên môn. Tuy nhiên, việc giới hạn chỉ tiêu biên chế, khó tăng lương do quy định về bằng cấp, thu nhập thấp… là trở ngại lớn để thu hút và giữ chân các tài năng. Sứ mệnh bảo tồn sân khấu truyền thống thuộc về các nghệ sĩ trẻ. Nhưng một khi các nghệ sĩ trẻ không có một cuộc sống ổn định để yên tâm làm nghề thì công tác bảo tồn sân khấu truyền thống cũng không thể đảm bảo được tốt”. Chính các nghệ sĩ trẻ như Tạ Quang Phúc (Nhà hát Chèo Hải Dương), Tống Như Đạt (Đoàn nghệ thuật Tuồng Thanh Hóa) vừa đoạt HCV tại Cuộc thi Tài năng trẻ diễn viên sân khấu Tuồng, Chèo chuyên nghiệp toàn quốc cũng phải thừa nhận: Chúng em rất yêu nghề và không muốn bỏ nghề. Chúng em luôn được các cô chú lãnh đạo đoàn, nhà hát quan tâm hết lòng, nhưng với thu nhập hơn 2 triệu đồng/tháng không đủ để chúng em trang trải cuộc sống, yên tâm cống hiến hết mình cho nghề.

Trích đoạn “Trần Phương” của Nhà hát Chèo Việt Nam

Cần cơ chế đặc thù

Trước những khó khăn trên, tháng 7 vừa qua, UBND tỉnh Đà Nẵng đã ban hành quyết định phê duyệt chế độ đãi ngộ đối với diễn viên, nhạc công sân khấu hát bội (tuồng) truyền thống của tỉnh với các mức hỗ trợ 3 triệu đồng, 1,5 triệu đồng và 1 triệu đồng/người/tháng tùy thành tích đạt được và số năm cống hiến để hỗ trợ phần nào đời sống khó khăn của các nghệ sĩ. Nhưng việc hỗ trợ như ở Đà Nẵng chỉ là cá biệt và cũng chưa phải là nhiều so với mặt bằng chi phí sinh hoạt chung hiện nay.

Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 11.12.2015 quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn nhằm góp phần giải quyết những bất cập thuộc về chế độ đãi ngộ tồn tại từ trước, nhưng cho đến nay vẫn chưa được áp dụng trên thực tiễn và thông tư có quy định tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với diễn viên hạng I, II, III phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh diễn viên hạng I, II, III, song đa phần các NSND, NSƯT, các tài năng trẻ chủ yếu được đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp hoặc truyền nghề và hiện cũng chưa có cơ sở đào tạo nào mở lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn các chức danh diễn viên. Hơn nữa, mặc dù Chính phủ đã ban hành Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2015 về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tuy nhiên, nguồn kinh phí bồi dưỡng biểu diễn lại do chính các đoàn, nhà hát phải tự chi trả. Do đó, nếu doanh thu thấp thì các đơn vị không thể tính các mức bồi dưỡng biểu diễn theo đúng quy định mới.

Trong công tác bảo tồn sân khấu truyền thống, yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Do vậy, để công tác bảo tồn đạt hiệu quả, rất cần có một cơ chế đặc thù riêng để các nghệ sĩ tài năng không bị đói, không quay lưng với sân khấu truyền thống và yên tâm giơ cao ngọn lửa nhiệt huyết để hoàn thành sứ mệnh giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của cha ông để lại.

(Nguồn: Trần Thị Minh Thu – Báo Điện tử Văn hóa, Bộ VHTTDL)