Suý Vân giả dại – bức thông điệp nhân văn

15418459_1781245155433818_306809163932681919_o

Một hiện tượng đáng lưu ý là những tích truyện của các “bác thơ” vốn là những nho sĩ, đôi khi muốn truyền bá những tín điều của Khổng, Mạnh – thường lại bị sự sáng tạo dân gian qua lối diễn ứng tác tài hoa làm cho chủ đề bị mờ nhạt hoặc méo mó. Mọi sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến qua cửa Chèo đã bị biến dạng để trở nên nhân bản hơn, vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Vở Chèo Kim Nham cũng nằm trong quy luật đó.

Chèo là một môn nghệ thuật sống động. Những vở mà chúng ta gọi là Chèo cổ cũng đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa, thêm bớt, cập nhật thẩm mỹ với những thời kỳ lịch sử khác nhau để có một diện mạo nghệ thuật như hiện nay. Sự bồi đắp, sàng lọc đó tồn tại trong các bản diễn sinh động được truyền nối và giữ gìn qua các thế hệ nghệ sĩ. Công việc nghiên cứu, tìm hiểu và thẩm định các vở Chèo không thể bỏ qua nguyên tắc cơ bản và thiết yếu này.

Một hiện tượng đáng lưu ý là những tích truyện của các “bác thơ” vốn là những nho sĩ, đôi khi muốn truyền bá những tín điều của Khổng, Mạnh – thường lại bị sự sáng tạo dân gian qua lối diễn ứng tác tài hoa làm cho chủ đề bị mờ nhạt hoặc méo mó. Mọi sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến qua cửa Chèo đã bị biến dạng để trở nên nhân bản hơn, vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Vở Chèo Kim Nham cũng nằm trong quy luật đó.

Trong khi dụng ý đề cao đạo quân tử của Kim Nham quyết chí dùi mài kinh sử để đạt tới địa vị cao sang trong xã hội, người ta lại chà đạp không thương tiếc lên ước vọng nhỏ nhoi, bình thường của Xuý Vân bằng những luật tam tòng, tứ đức hà khắc. Sự “vượt rào” đi tìm hạnh phúc để được “mê đắm Trần Phương” đã đẩy nàng trở nên nghịch nữ, phản diện và nhận một quả báo thật nghiệt ngã và bi thảm.

Chủ đề của tích truyện tưởng đã rõ ràng, minh bạch mà sao khi xem xong bản diễn, con người đáng giận, đáng phê phán kia lại trở thành một Xuý Vân đáng thương là vậy! Sự sáng tạo của dân gian trong lớp trò “Xuý Vân giả dại” đã phả cái hơi thờ nhân văn vào tác phẩm, vào nhân vật.

Không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã tạo nên một lớp trò dài gần ba mươi phút chỉ để mô tả sự giả dại – một thủ đoạn, một cái cớ – để Xuý Vân thoát khỏi sự ràng buộc buồn tẻ, tìm về một vùng đất hứa của tình yêu. Chính sự sáng tạo tài tình của lớp trò này đã làm lung lay cái gốc rễ của chủ đề tác phẩm. Trải qua thời gian, cho dù có những tác giả khuyết danh và hữu danh đã cố xoay chuyển những tình tiết cốt truyện để cứu vãn sự “phá sản” của chủ đề, để bảo vệ tính giáo huấn, lên án cái hành động “bạc tình”, “lòng chim dạ cá” của Xuý Vân, nhưng lớp trò diễn Xuý Vân giả dại đầy tính nhân văn vẫn cứ lừng lững tồn tại và được bảo tồn, truyền nối nguyên vẹn qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Thậm chí, có những tác giả vì muốn bảo vệ lớp trò kiệt xuất này mà triển khai lại toàn bộ chủ đề cốt truyện để đảm bảo tính thống nhất của toàn tác phẩm. Tìm hiểu các thủ pháp nghệ thuật đã tạo nên lớp trò đặc sắc này, cũng như việc giải mã nghệ thuật giả điên của Xuý Vân ngõ hầu có thể giúp chúng ta nhận thức thêm những điều kỳ diệu mà nghệ thuật Chèo hàm chứa.

Cả một lớp trò độc diễn được triển khai trong âm nhạc và vũ đạo không phải chỉ để thực hiện cái mục đích giả điên, che mắt người đời như ý đồ kịch bản mong muốn mà lại biến thành một bản tự sự giãy bày chân thật nhất về những ước vọng của con người, một lời trần tình tha thiết mong được sự rộng lượng cảm thông. Sự tài tình nằm ở phần xử lý âm nhạc.

Với một nhân vật mang tâm trạng bi kịch như vậy mà chỉ có loáng thoáng ít câu hát nói chậm rãi mang âm hưởng buồn đau, thống thiết. Còn lại là nhường chỗ cho những làn điệu trong sáng, vô tư, tha thiết thậm chí tung tẩy hồn nhiên với tiết tấu nhanh vui rộn rã như Con gà rừngLới lơHát xuôi hát ngượcQuá giang. Đó là điều phi thường trong nghệ thuật ca kịch cổ điển.

Những giai điệu trong sáng hồn nhiên kết hợp với lời thơ mang tính ẩn dụ cao đã tạo nên cái cảm giác vượt thoát thực tại để cháy sáng những ước mơ bình dị, trong trắng của con người:

… Chờ cho cây lúa chín vàng

Để anh đi gặt, để nàng mang cơm

          … Nhác trông lên núi Thiên Thai

Thấy hai con quạ ăn xoài trên cây

          … Ta đi chợ Dốc, ngồi gốc cây đa

Thấy cô yếm thắm mặc áo nâu già

Thắt dây lưng xanh.

Lời lẽ trong những làn điệu tưởng chừng như không ăn nhập với hoàn cảnh mà nhân vật đang trải nghiệm, và có phần khiên cưỡng, ngẫu nhiên, nhưng ở bề sâu lại hàm chứa những điều tâm huyết được bộc lộ từ đáy lòng để trần tình nỗi đắng cay mà thân phận Xuý Vân đang phải gánh chịu:

Gà rừng ăn lẫn với công

Đắng cay chẳng chịu được, láng giềng ai hay?

Sự bức xúc, dồn nén đến mức phát rồ phát dại, nhìn mọi thứ trên đời bỗng đảo điên, lộn ngược, dường như muốn tung hê trật tự an bài:

… Ông bụt bẻ cổ con nai

Trứng gà tha quạ lên ngồi trên cây

          … Con vâm ấp trứng ba ba

Cưỡi con gà mà đi đánh giặc.

Tất cả nỗi niềm, tâm trạng day dứt ấy hun đúc lại thành ước vọng vượt thoát khỏi cảnh đời hiện tại qua hình tượng “quá giang”. Đây là một sự dằn vặt bận tâm nhất của Xuý Vân mà các tác giả dân gian đã khắc hoạ một cách tài tình qua tiếng gọi đò thảng thốt để sang sông.

Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính sau này cũng có một tâm trạng rối bời như vậy:

… Chuyến này chị bước sang ngang

Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây

          … Rồi đây sóng gió ngang sông

Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ!

Chỉ khác là người phụ nữ “lỡ bước sang ngang” trong thơ Nguyễn Bính luôn đau đáu một nỗi niềm tiếc nuối tình yêu, còn Xuý Vân thì nôn nao một ước vọng sang sông để kiếm tìm hạnh phúc. Vừa khát khao vượt thoát nhưng lại thảng thốt lo âu, dằn vặt. Đó là những biểu hiện của nhân cách, lương tâm, luôn luôn lo sợ điều tiếng thị phi, thói đời ghẻ lạnh:

– Tôi chắp tay tôi lạy bạn đừng cười!

– Lòng tôi không giăng gió… Bớ đò! Bớ đò!

“Đò” ở đây phải chăng là sự đồng cảm của xã hội, cộng đồng mà Xuý Vân muốn kêu cứu với tất cả sự chân thành thống thiết.

Tôi kêu đò đò chẳng có thưa

Tôi càng chờ càng đợi, càng trưa chuyến đò.

Tất cả như rơi vào cõi im lặng. Và thật tài tình, ở đây bất ngờ xuất hiện một trường đoạn múa mang tính kịch với bộ gõ trung tính đệm theo. Cái ước vọng thầm kín được mô tả qua sự miệt mài quay sợi, dệt vải, se chỉ, vá may. Công việc nào cũng thảng thốt lo âu: khi đứt sợi, lúc mất kim, tìm kim, thỉnh thoảng lại hốt hoảng thốt lên “Bớ đò! Bớ đò!” một cách vô vọng. Đây là một lớp diễn phi thường. Lúc nó ra đời ở nước ta chưa có khái niệm kịch múa.

Cũng cần phải nói đến một thủ pháp nghệ thuật đắt giá nữa là tiếng cười ở một âm khu cao, với một âm lượng mạnh mẽ, bị cắt ngang đột ngột, không có hậu. Tiếng cười tức tưởi của Xuý Vân rất gần với tiếng thét. Nó như tiếng xé vải, như một sự đổ vỡ, một sự kết tinh của niềm chua xót tột cùng được bật ra, tung toé. Nó là sự bùng phát nội tâm chân thành và bạo liệt, đầy ấn tượng.

Với thi pháp nghệ thuật mang tính chất nghịch thường như nỗi lòng buồn mà giai điệu hát lại vui; khi đáng khóc lại bật lên cười; khi chưa trọn vẹn tiếng cười thì lại cắt ngang đột ngột chìm vào đau khổ. Tất cả những trạng thái không bình thường đó cùng với những đường nét vũ đạo hàm súc: những bước chạy chao đảo trong vòng lượn xoáy, những động tác xoắn tay, vò xé, hất tung… đã tạo nên ngôn ngữ của sự điên dại – một sự điên dại tỉnh táo của Xuý Vân.

– Tôi chắp tay tôi lạy bạn đừng cười!

Lời trần tình thống thiết đó như một bản thông điệp cho cuộc đời, cầu mong sự đồng cảm với những ước vọng nhân bản và nhỏ nhoi, giản dị mà thân phận con người mong mỏi. Tiếng vọng “Bớ đò!” gắn liền với hình tượng Xuý Vân như vẫn còn chấp chới, vang vọng mãi trong tâm thức người đời để mà chia sẻ, cảm thông, suy ngẫm.

Bằng các thủ pháp nghệ thuật tài tình, siêu việt, các nghệ sĩ dân gian đã tạo cho Chèo một lớp diễn phi thường, vượt cả thời gian, không gian để tồn tại và toả sáng trước sự ngưỡng vọng của hàng triệu con người.

(Nguồn: Đôn Truyền. Hồn quê trong di sản – NXB Văn học, 2007)