Từ bản sắc dân tộc đến một khuynh hướng phát triển Chèo

Trong thời đại giao lưu và thông tin ngày nay thật không dễ định nghĩa về khái niệm bản sắc dân tộc của sân khấu. Bởi nó được cố kết lâu dài theo trục dọc lịch sử, do những đặc điểm, phẩm chất, đặc trưng vốn có từ xa xưa. Bản sắc dân tộc trong sân khấu thường được cả cộng đồng “bao gồm người sáng tạo và người thưởng thức” chấp nhận, tôn trọng và nuôi dưỡng đến mức dường như nó lặn sâu vào tâm thức bên trong của con người, trở thành tập quán thưởng thức nghệ thuật. Dưới đây chúng tôi xin đề cập một vài nét về bản sắc dân tộc trong nghệ thuật chèo và theo đó một khuynh hướng làm chèo cần được khích lệ.

I – Về quan niệm bản sắc dân tộc trong văn hoá đã có nhiều nhà văn hoá trên thế giới cũng như nhiều học giả trong nước đề cập tới chẳng hạn như Tố Hữu, Trần Độ, Quang Đạm, Trần Đình Hượu… đều thống nhất rằng phải có ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc trong văn hoá nghệ thuật. Mỗi người nghệ sĩ ở mỗi một loại hình văn hoá nghệ thuật vừa phải nhận thức rõ bản sắc chung của dân tộc vừa phải thấy được những biểu hiện của bản sắc trong từng ngành, từng lĩnh vực sáng tác. Phải công phu tìm ra những quy luật đặc thù của phương pháp sáng tạo trong mỗi loại hình để đẩy mạnh sáng tạo trên cơ sở bản sắc dân tộc thì mới tìm được hướng đi đúng đắn. Tìm được từng yếu tố dân tộc trong ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, đường nét là cần thiết và quý giá, nhưng cái quan trọng hơn là phải tìm được quy luật phát triển, quy luật của phương pháp sáng tạo. Giáo sư Trần Độ còn nhấn mạnh: “Bản sắc dân tộc cũgn chính là nét tâm hồn dân tộc của mỗi người trong dân tộc, Bản sắc Việt Nam chính là tâm hồn Việt Nam, bản sắc được thể hiện ở văn hoá nói chung và biểu hiện rõ nhất ở con người”[1].

Ai cũng nhận rằng chèo là một bộ môn quan trọng của sân khấu nói riêng và của VHNT nói chung, nhưng khi nói về bản sắc dân tộc trong chèo, chỉ ra một cách cụ thể diện mạo của nó thì lại rất lúng túng, mặc dù chúng ta có thể nhận thấy ngay khi xem một vở diễn rằng đó có “thuần” chèo hay chỉ là một vở diến theo lối kịch hát mới.

1. Bản sắc chèo trước hết được thể hiện ở nội dung phản ánh. Có lẽ, hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào, chèo gắn liền với tâm hồn tình cảm của người dân Việt Nam, đặc biệt người dân vùng đồng bằng Bắc bộ. Tích chèo thường được khai thác trong mối quan hệ nghĩa tình giữa người với người trong gia đình hoặc làng xóm một cách bình dị. Sự bình dị được toát lên từ tâm hồn, từ ở tấm lòng và cung cách ứng xử. Nàng Châu Long thay chồng nuôi bạn thành tài, trải ba năm đằng đẵng mà vẫn giữ trọn vẹn tấm lòng thủy chung. Lòng hiếu thảo của Thị Phương đối với mẹ chồng đã làm xúc động cả đến quỷ thần… Rồi đến những nhân vật nổi tiếng như Thị Kính, Thị Màu, Suý Vân, Trinh Nguyên… Mỗi người mỗi số phận khác nhau nhưng đều có thể bắt gặp ở họ những nét tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ gần gũi với con người Việt Nam.

2. Bản sắc còn được thể hiện trong sự độc đáo về mặt hình thức nghệ thuật:

Chèo thường khai thác từ những câu chuyện dân gian quen thuộc, người xem nhiều khi thường biết trước tích diễn và không có trạng thái hồi hộp chờ đợi như đi xem kịch nói. Vậy điều gì lại có sức hấp dẫn, lôi cuốn người xem đến với chèo qua nhiều thế hệ là vậy. Phải chăng đó chính là các trò diễn nghệ thuật: người xem như đắm mình trong sự thưởng thức vẻ đẹp của thơ ca của các giai điệu mượt mà, của các dáng vẻ tạo hình từ thân thể và các trổ múa, để rồi khóc, cười hoà nhập vào câu chuyện như lãng quên cái ý nghĩa sâu thẳm của tích đã thấm dần vào lòng mình mà không hay biết: Chất “say” của chèo là ở đây, cái “hay” của chèo cũng là ở đây. Và cái hay, sự say đắm này chính nó góp phần tạo nên bản sắc của chèo, tích trò dài, dung lượng lớn nên nghệ thuật chèo thường dùng cách vừa kể chuyện vừa diễn trò, kể chuyện để tóm lược những đoạn chuyện không hiện hình trên sân khấu. Vừa kể chuyện, vừa mô tả, nên kịch bản chèo được viết theo lối tự sự. Tuy nhiên phương pháp tự sự này khác tuồng ở chỗ nó mang đậm yếu tố trữ tình và lại thường được hài hước hoá. Đã nói đến chèo là phải nói đến hài, chất hài có vị trí đáng kể ngay từ khâu kịch bản, thậm chí yếu tố hài hước còn được các nghệ nhân xưa (và nghệ sĩ ngày nay) ứng diễn bổ sung vào trò diễn, có khi thấy bóng dáng ngay ở cả những nhân vật trang nghiêm như ông Mãng, Trương Mẫu hay Trinh Nguyên… Ví dụ: Nếu vai ông Mãng một ông già mộc mạc chất phác không được điểm vào yếu tố lạc quan hài hước, sao có thể ra vai ông Mãng được. Hoặc giữa không khí xúc động trang nghiêm khi Trương Viên sau nhiều năm xa cách gặp lại mẹ và vợ, chàng bồn chồn vừa muốn giữ thể diện một vị đương quan lại vừa muốn ôm lấy người thân thì Trương Mẫu trong cử chỉ hắt tay Trương Viên ra lại bộc lộ sự nghi ngờ thoáng chút hờn dỗi, khiến người xem vừa xúc động lại vừa buồn cười.

Như thế tự sự bằng ngôn ngữ hài hước giàu chất trữ tình là một đặc trưng cốt tử làm nên bản sắc độc đáo của nghệ thuật chèo, nó đặc biệt phù hợp với tính cách con người Việt Nam vốn rất lạc quan và ưa sự hài hước hóm hỉnh.

II – Giữa nhiều con đường đổi mới chèo, có một khuynh hướng làm chèo đáng khích lệ biết tiếp thu phát triển trên cơ sở giữ được bản sắc độc đáo của nghệ thuật chèo.

1. Trên con đường sáng tạo nhằm xây dựng một nền nghệ thuật dân tộc – hiện đại chúng ta đã khám phá được nhiều vẻ đẹp của nghệ thuật chèo truyền thống mà ông cha để lại. Tuy nhiên chúng ta vẫn khá lúng túng trong việc kế thừa và phát triển vẻ đẹp đó khi xây dựng những vở chèo mới, bằng chứng là ngành chèo qua mấy thập kỷ cố gắng cho đến hôm nay, vẫn chưa nhất trí phát triển theo một hướng cụ thể nào. Tuy vậy thực tế đã có những con đường, những thể nghiệm thành công về cách tân chèo trên cơ sở giữ gìn bản sắc chèo truyền thống được xác định qua một loạt vở như: Chiếc nón bài thơ, Cau chuyện làng Nhân, Sông Trà Khúc, Lý Nhân Tông kế nghiệp, Cô gái làng Chèo, Những người nói thật, Anh lái đò sông Vị, Duyên nợ ba sinh, Người tử tù mất tích, Nữ tú tài…

Đa số những vở diễn này đều treo cấu trúc tự sự. Tính tự sự được xem ở bản chất của nó (sự kể lại), ở sự thể hiện của nó (các sự kiện nối tiếp nhau theo thời gian); ở đặc điểm của nó (các sự kiện nối tiếp nhau theo thời gian); ở đặc điểm của nó (các sự kiện không có liên quan nội tại hay mối quan hệ nhân quả) và cuối cùng cả sự phát triển của bản thân nó (dung nạp hai yếu tố trữ tình và kịch).

Trình tự phát triển của các cốt truyện đều được diễn ra theo lối kể chuyện, lướt nhanh ở những đoạn không cần thiết, nhấn sâu vào những mảng xung đột lớn nơi có điều kiện phát huy tiềm năng ca hát, âm nhạc, vũ đạo, diễn xuất gây ấn tượng mạnh mẽ. Trong những lớp  đặc tả trọng tâm này, các nhân vật chính thường được đặt vào những tình huống điển hình với những hành động đã vượt lên ranh giới tả thực, được kỳ lạ hoá, mỹ lệ hoá chứa đựng được dung lượng lớn lao điều tác giả muốn nói. Trong vở Lý Nhân Tông kế nghiệp sức cuốn hút ở những bài hát của vai Hề già trước lúc chết, những bài hát của em bé thuyền chài, những bài ca của cô kỹ nữ trong một đêm mất ngủ, của Lý Nhân Tông và cả những khúc hát của Lý Thường Kiệt nữa – có khá nhiều bài bản mới sáng tác, nhưng người xem bị cuốn hút đến không cưỡng lại được trước vẻ đẹp mượt mà nền nã của chúng, không kịp định thần để phân biệt đâu là làn điệu chèo và đâu là những giai điệu sáng tác mới. Đặc biệt sự có mặt của ông Hề thông minh cương trực ra trò để cười cợt sự đời và tự cười chính mình. Lớp chôn Hề với dáng vẻ khảng khái, thung dung pha chút hào sảng ngất ngư trước khi bước vào cõi chết như được lồng trong không khí ngập tràn chất thơ và lãng mạn đã thực sự chinh phục khán giả bởi niềm tin vào sự thắng lợi của lương tri, của lẽ phải, của chân lý giản dị ngân rung lên từng chi tiết đến toàn bộ số phận và tính cách của ông Hề già. Có thể nói thành công của Lý Nhân Tông kế nghiệp là ở giá trị văn học của kịch bản, ở tài đạo diễn, ở nghệ thuật diễn xuất, âm nhạc, trang trí, ánh sáng… cả một tổng thể âm thanh và màu sắc tạo nên một sức mạnh truyền cảm hiếm có trong việc thừa kế và phát huy bản sắc nghệ thuật chèo truyền thống.

Nói theo cách nói dân gian thì vở Nữ tú tài trên chiếu chèo Tổng cục hậu cần là một vở diễn giòn trò chứa đựng nội dung xã hội và chủ đề khá sâu sắc: không chỉ là niềm khao khát vươn lên tự khẳng định của người phụ nữ để yêu cầu về quyền bình đẳng, mà còn mang một tầm cao mới về nhân sinh và triết lý – đó là cuộc đấu tranh quyết liệt không mệt mỏi của con người hướng tới sự công bằng xã hội. Lớp “pha thổ” được coi là lớp trò độc đáo của vở diễn với việc sử dụng điệu hátsắp chênh của Giả Thư… dù còn những nhận định khác nhau nhưng đa số đều đồng tình với ý kiến của một thiếu tướng phụ trách Tổng cục hậu cần sau đêm công diễn đầu tiên: “Xin tặng cho tác giả bốn chữ: Dân tộc và trong sáng”.

2. Bản sắc chèo lấp lánh và nhiều góc độ, nhiều lúc khó gọi tên nó ra. Ngay trong số vở diễn theo lối kịch chèo cũng có một số mảng miếng đậm đà màu sắc chèo, được cả giới chèo trân trọng như lớp: Cử Duy (vở Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ), Chơi cầu trăng (vở Một tình yêu sẽ đến), Thanh Loan (vở Trần Thành Ngọ), Hồng Liên (vở Những cô gái mặt đường), Thuý Điệu (vở Những cô thợ dệt), Hoa Nẻng (vở Tình rừng), Cả Lường (vở Cô hàng rau)…

*

**

III – Nghệ thuật chèo từ ngàn xưa đã gắn liền với mùa xuân, lễ hội, với những mối tình thầm kín. Sân đình và không khí náo nức của đêm hội chính là nơi hò hẹn, chia tay, là niềm mong nhớ của bao người… như Nguyễn Bính đã thổ lộ qua lời một thôn nữ:

“Anh ạ mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ em rằng hát tối nay

Chèo không chỉ là món ăn tinh thần trong ngày hội xuân, mà với người nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ chèo trở thành một phương tiện nghệ thuật, một nhu cầu để sáng tạo ra những giá trị tinh thần, chèo không chỉ tồn tại ở các gánh chèo xưa (các đoàn chuyên nghiệp ngày nay) mà còn có cả phong trào diễn chèo, hát chèo rộng khắp. Nghệ thuật chèo không chỉ được coi là một hình thức giải trí mà còn là vườn ươm những giá trị tinh thần thiêng liêng cao quý, một mảnh hồn dân tộc, một trong những tinh hoa độc đáo của nền văn hiến Việt Nam. Chính điều đó tạo nên cho nghệ thuật chèo một bản sắc độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

Chẳng phải riêng người Việt Nam yêu chèo mà các nhà hoạt động sân khấu nổi tiếng thế giới cũng khẳng đinh bản sắc và sự trường tồn của nghệ thuật chèo. Prôkhôrốp – nhà phê bình sân khấu nổi tiếng Liên Xô đã viết: “Sân khấu dân gian chèo, sân khấu Kinh kịch tuồng… mỗi thể loại sân khấu ấy đều lấp lánh một kho tàng những phương tiện biểu đạt và nghệ thuật diễn xuất. Đó chính là điều mà phương Tây ngày nay đang say sưa tìm kiếm” và ông kết luận “Chèo, tuồng, đó là mãi mãi!”

Như vậy nghệ thuật chèo hôm nay chỉ có thể phát triển trên cơ sở giữ cho được những nét đặc sắc độc đáo của chèo truyền thống, nói theo cách nói của nhà nghiên cứu Minh Quang thì trên con đường tiến lên xây dựng một nền nghệ thuật dân tộc và hiện đại ta sẽ phải “từ ta mà mới” chứ không nên rơi vào con đường “cũ người mới ta” thì mới mong giữ được cái bản sắc của chèo, của tuồng. Những thành công của khuynh hướng làm chèo mà chúng tôi nói ở trên cần phải được tiếp tục tìm hiểu, rút kinh nghiệm và phát huy sâu rộng hơn nữa trên thực tế sáng tác và biểu diễn chèo. Và hơn hết để làm được điều đó cần phải có một sự hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật chèo không chỉ ở tập thể sáng tạo hay giới nghiên cứu lý luận mà của cả những nhà quản lý các đoàn chèo khắp cả nước…