Trò chuyện với GS Trần Bảng về vở Chèo “Suý Vân”

13243935_1689222861302715_197697517343322693_o

Trong hội diễn sân khấu chuyên nghiệp mùa xuân năm 1962, với vở chèo Súy Vân, Nhà hát Chèo Việt Nam đã được đón nhận cơn mưa Huy chương Vàng (HCV) : HCV cho vở diễn, HCV cho các thành phần tham dự sáng tạo (đạo diễn, âm nhạc, trang trí phục trang), 7 HCV cho diễn viên. Lúc đó GS NSND Trần Bảng 35 tuổi là đạo diễn – người chủ biên công trình sáng tạo này. Sau gần 50 năm, vở Súy Vân (cải biên từ vở Kim Nham) vẫn tồn tại trên sàn diễn Nhà hát Chèo và một số đoàn chèo địa phương.

Ý tưởng nào đã giúp cho nhà đạo diễn Trần Bảng thành công? Đó là nội dung cuộc trò chuyên sau đây :- Dưới sự chỉ đạo của Ban nghiên cứu chèo, Quan Âm Thị Kính được chọn vào diện chỉnh lý. Lưu Bình Dương Lễ thuộc diện viết lại, tại sao Súy Vân lại thuộc diện cải biên, thưa giáo sư?

GS NSND Trần Bảng: Sở dĩ phải đặt vấn đề cải biên vì nội dung của vở Kim Nham cổ chứa đựng một mâu thuẫn rất lớn. Một bên là tư tưởng của người nho sĩ (tạo nên thân trò) phê phán khắt khe hành động của Súy Vân : giả dại để thoát khỏi sự thờ ơ của chồng và gia đình nhà chống đi tìm hạnh phúc lứa đôi. Một bên là tư tưởng của người nông dân đóng vai (nghệ sĩ) coi đó là một hành động giải thoát hợp tình người, đã bằng nghệ thuật ngẫu hứng của mình sáng tạo nên hình tượng Súy Vân tuyệt đẹp trong lớp trò Giả dại. Mâu thuẫn trên đưa trò diễn cổ đến tình trạng nửa vời, không dứt khoát về chủ đề tư tưởng. 

Như vậy, Súy Vân cải biên là sự tiếp tục ý tưởng của các nghệ sĩ dân gian, làm cho ý đồ bên vực Súy Vân hoàn toàn thắng thế? 

GS NSND Trần Bảng : Đúng thế… hơn nữa cải biên không phải là một vấn đề mới. Vở cổ đến với chúng ta qua các nghệ sĩ dân gian thực tế đã là một công trình cải biên dẫu rằng nó còn ở trạng thái nửa vời chưa trọn vẹn. Có hai ý đồ đối địch kết án và bênh vực Súy Vân còn tranh chấp, chưa ngã ngũ.Thái độ của tập thể cải biên là đứng về phía người nghệ sĩ nông dân ủng hộ sự nổi dậy của Súy Vân, làm cho ý đồ bênh vực Súy Vân hoàn toàn thắng thế, trở thành chủ đề duy nhất của vở. Chỉ có theo phương pháp này mới có thể bảo tồn được đầy đủ – nghĩa là cả về mặt nội dung lẫn hình thức – đoạn truyền thống quý giá của vở cũng như của nghệ thuật chèo cổ – đoạn Vân dại. Phương hướng này không những phải hợp với điều căn bản trong đường lối khai thác vốn cổ  là tiếp thu và phát triển tinh thần dân chủ trong di sản văn học cổ truyền mà còn làm cho vở cổ có một tác dụng tốt trong phong trào giải phóng phụ nữ vào thời điểm mà vở diễn ra đời.

Để bảo tồn được những truyền thống độc đáo của vở cổ, phương châm cải biên của các tác giả thời đó là gỉ?

GS NSND Trần Bảng : Cách làm trước hết là chúng tôi tập chung vào trích đoạn Vân dại, nghiên cứu từng động tác, từng lời hát để tìm ra tính cách và động tác chủ đạo của Súy Vân làm cơ sở cho sự cấu tạo các đọan khác, Khác hẳn với những vai phụ nữ quen thuộc trong chèo cổ như Thị Kính, Thị Phương, Súy Vân là một tâm hồn mãnh liệt, yêu cuộc sống sôi nổi, dám đứng lên chống lại với sức mạnh – của dư luận, của tập quán phong kiến. Súy Vân là người con gái mà xã hội phong kiến xếp vào hàng nghịch nữ nhưng trước con mắt ta ngày nay thì lại là một tính cách hiếm có, nó như ngọn đuốc sáng ngời lên trong đêm tối mịt mùng của xã hội cũ.Trong vở cải biên này, Súy Vân đã trở thành một nhân vật trung tâm mang tâm mang tính triết lý của vở. Ngọn lửa của một tấm lòng yêu thương khao khát cuộc sống bùng lên nhưng liền bị sức mạnh của bóng tối dập tắt. Tính bi kịch của Súy Vân cũng là ở chỗ này. Nhìn chung toàn bộ vở cải biên thì chúng tôi chỉ cải mạnh ở đoạn đầu còn thì cố gắng đi theo tình tiết cổ, những hình tượng độc đáo của vở cổ đều giữ được như ; lớp hề gậy – Trần Phương; mụ Quán – Khoèo, Thầy Phù thủy và nhất là đoạn Vân dại thì không những được bảo tồn toàn vẹn mà còn được trau chuốt thêm lên. Chúng tôi bỏ hẳn lớp trò gả chồng cho Súy Vân nhưng không coi đó là sự mất mát vì đây là một lớp có tính chất dùng chung không phải là lớp riêng biệt của vở Súy Vân. Sự thay đổi hoàn toàn trái ngược vở cổ chỉ thấy ở vai Kim Nham mà các nghệ sĩ dân gian đã giũa mòn hình nét. Tuy nhiên, thay đổi tính cách vai này chúng tôi chỉ làm mất đi cái uy thế vô lý của người đàn ông trong xã hội cũ (xét về mặt nội dung), còn về mặt nghệ thuật chỉ mất bài quyết chí tu thân nhắc lại hai lần. 

Về đề tài : Súy Vân cải biên nhấn rõ tính bi kịch, mang mấu sắc của chèo cổ, còn về phong cách thì Súy Vân có những đặc điểm phát triển mới : sự kết hợp hài hòa giữa lối tự sự và lối biểu hiện có tính kịch … xin giáo sư cho biết rõ hơn về vấn đề này?

GS NSND Trần Bảng : Cho đến nay chẳng ai còn phải tranh luận rằng chèo là bi hay hài như thời điểm vở diễn ra đời, bởi vì sân khấu chèo không những phong phú cả về mặt hài hước, lẫn bi thương mà còn cả về mặt trữ tình, ba yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau. Và, đúng như bạn nói – Súy Vân cải biên mang rõ tính bi kịch, tính bi kịch mang đặc điểm chèo. Người ta không còn thấy ở đây lối kể chuyện sơ lược vốn có trong chèo cổ nữa. Lối kể đã tập trung vào những sự kiện chính và nhất là đi sâu vào cuộc sống nội tâm phức tạp của nhân vật hơn. Tính kịch không thể hiện theo lề lối tả thực của sân khấu kịch nói mà là theo lề lối tự sự – ước lệ của sân khấu chèo. Lề lối này không mới, nó đã có sẵn trong lớp Giả dại cổ. Ở đây ba loại động tác trong chèo đều được dùng. Nhiều khi động tác minh họa, thậm trí động tác trang trí cũng mang tính biểu hiện. Tất cả nhằm thể hiện những xung đột tâm lý của vai diễn.

Xin giáo sư cho biết vài nét về sáng tạo âm nhạc và mỹ thuật của vở?

GS NSND Trần Bảng : Nếu nói đến âm nhạc trước hết phải kể đến công lao bẻ làn nắn điệu của nghệ sĩ nhân dân  Minh Lý – những làn điệu truyền thống đã được bà sáng tạo một cách khéo léo, tinh vi hợp với các tình huống của vở diễn. Tiếp đó là công của nhạc sĩ Hoàng Kiều, cũng từ những điệu hát truyền thống, ông đã dày công tìm ra phương pháp hòa thanh phối khí thích hợp, đã tạo được hiệu quả rất chèo và hòa quyện được với những làn điệu truyền thống. Âm nhạc có phát triển đã góp phần đẩy mạnh tính bi kịch của hình tượng Súy Vân. Họa sĩ NSND Nguyễn Đình Hàm đã thử nghiệm thành công thủ pháp miêu tả nửa tương trưng với cảnh trí giản dị mang phong cách tả ý rất hiệu quả. Ví như ở màn IV là một cái mạng nhện đen bao trùm toàn bộ phông hậu, ở giữa là con nhện xanh đen đang rình con chuồn chuồn ớt bị sa bẫy dường như càng vùng vẫy càng bị trói chặt … đã để lại ấn tượng sâu sắc cho cả khán giả nước ngoài lẫn trong nước.

Ở Hải Dương năm 1962, vở diễn có 8 nhân vật thì 7 nhân vật đoạt HCV, một nhân vật chịu HCB chỉ vì hát sai có một nhịp?

GS NSND Trần Bảng (cười rất vui): Giám khảo thuở ấy toàn những vị tinh thông nghề  nghiệp, rất vô tư và nghiêm khắc. Diễn viên đóng mụ Kim chỉ vì hát sai một nhịp trongHoài thai mà trượt mất HCV! Vở diễn Súy Vân thu hút được rất nhiều mảng trò và làn điệu chèo hay. Vở đầy ắp các vai diễn truyền thống mẫu mực và lớp nghệ sĩ thời ấy đã lao động nghệ thuật đầy hào hứng, đầy trách nhiệm, sáng tạo đối với họ là một điều thiêng liêng.

Đã quá giờ ngọ mà ông vẫn sôi nổi và say sưa. Sợ làm ông mệt, tôi lúng túng xin hẹn một dịp khác. Nhìn mái tóc bạc trắng, đặc biệt là đôi mắt sáng lúc nào cũng như cười của ông mỗi khi nói chuyện nghề, tôi thầm cầu mong ông khỏe mãi để tiếp tục làm con tằm nhả những kén tơ vàng óng chuốt cho đời, cho chèo, cho những thế hệ tiếp theo của làng chèo đầy sức thanh xuân.