Sân khấu kịch hát: Lảng tránh đề tài hiện đại

IMG_2944

VH- Mấy năm trở lại đây, sân khấu kịch hát ngày càng thưa vắng các vở diễn đề tài hiện đại. Nói cách khác, sân khấu kịch hát dường như đang lảng tránh hiện thực đương đại, những vấn đề bức xúc của cuộc sống.

Chỉ thống kê 5 năm trở lại đây, có thể thấy tại Cuộc thi sân khấu Tuồng và Dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2013, có 5/24 vở đề tài hiện đại; năm 2016, có 5/17 vở đề tài hiện đại. Tại Cuộc thi sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2013, có 3/18 vở đề tài hiện đại; năm 2016, có 5/24 vở đề tài hiện đại. Tại Cuộc thi sân khấu Cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015, có 20/33 vở đề tài hiện đại, trong đó đa số lại là các vở diễn đi vào đề tài chiến tranh cách mạng và hậu chiến. Gần đây nhất, năm 2017, hơn 80 vở diễn gồm các thể loại được dàn dựng trên sân khấu các đoàn, nhà hát công lập và tư nhân, trong đó 27 vở diễn kịch hát (tuồng, chèo, cải lương, kịch dân ca) được dàn dựng mới hoặc phục hồi, nhưng chỉ có 3 vở diễn kịch hát thuộc đề tài hiện đại.

Khoảng trống ngày càng lớn

Từ thực tế trên, có thể nhận thấy đề tài hiện đại đang là “khoảng trống” trên sân khấu kịch hát nước ta. Dẫu biết rằng, đề tài lịch sử, dã sử, dân gian, huyền thoại… cũng vô cùng quan trọng và các nghệ sĩ dù đi vào đề tài quá khứ nhưng khán giả vẫn cần đến những vở diễn phản ánh trực tiếp cuộc sống của chính họ trên sân khấu và việc đi vào đề tài hiện đại cũng là cách để làm mới sân khấu kịch hát, thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ đến với di sản văn hóa nghệ thuật của cha ông để lại.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do sân khấu kịch hát thiếu vắng trầm trọng kịch bản được viết chuyên cho từng thể loại tuồng, chèo, cải lương và kịch dân ca. Những kịch bản đã được các đoàn, nhà hát dàn dựng phần lớn từ kịch bản kịch nói chuyển thể sang như: Nắng quái chiều hôm, Đường đua trong bóng tối, Một cây làm chẳng nên non, Không phải là vụ án… Trong khi đó, cách cấu trúc một kịch bản kịch nói khác với cách cấu trúc một kịch bản kịch hát, nhất là khi nó phải mang đặc trưng thi pháp thể loại vốn làm nên nét riêng biệt, độc đáo của sân khấu kịch hát, tạo cho một vở diễn tuồng khác với một vở diễn chèo, một vở diễn cải lương hoặc kịch dân ca. Điều này dẫn đến không ít vở kịch hát đề tài hiện đại ra đời có cấu trúc “kịch pha ca”, hình tượng nhân vật nhạt nhòa và không phát huy được đặc trưng ngôn ngữ của tuồng, chèo, cải lương và kịch dân ca.

Có thể nói, những người làm sân khấu kịch hát còn lúng túng trong việc sáng tạo các vở diễn đề tài hiện đại. Bởi lẽ sân khấu kịch hát dân tộc, nhất là tuồng và chèo vốn đã được định hình về phong cách thể loại với hệ thống quy ước mang tính khuôn mẫu trong từng vai diễn (tĩnh), trong khi đó, cuộc sống đương đại luôn thay đổi từng ngày, từng giờ với muôn hình vạn trạng của hiện thực lẫn con người (động). Do đó, để đưa đề tài hiện đại vào sân khấu kịch hát mà vẫn giữ được tinh hoa giá trị truyền thống của tuồng, chèo, cải lương… là điều không đơn giản đối với những người làm nghề. Điều này không chỉ thể hiện ở mặt cấu trúc kịch bản, nội dung cốt truyện, mà còn ở vấn đề ca, múa, diễn ra sao đối với các nhân vật hiện đại. Chính sự khó khăn trong sáng tạo mới đã dẫn đến hiện tượng các đoàn, nhà hát chỉ tìm đến đề tài lịch sử, dã sử, dân gian, huyền thoại vì các đề tài này dễ “vào chèo, tuồng, cải lương, kịch dân ca” khi ca, múa, diễn và các nghệ sĩ đỡ mất công tìm tòi, thử nghiệm mới.

Dựng vở mà không có hợp đồng thì chỉ có nước “ăn cháo”

Việc lựa chọn đề tài liên quan đến hợp đồng biểu diễn, doanh thu của các đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sân khấu kịch hát thiếu vắng đề tài hiện đại. Trong cơ chế tự chủ, lấy thu bù chi và bị cắt kinh phí để chi trả lương cho các hợp đồng, đồng thời chịu áp lực cạnh tranh gay gắt với các loại hình giải trí khác, các đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc buộc phải chủ động xây dựng tác phẩm phù hợp để tăng thêm nguồn thu. Do đó, tiêu chí lựa chọn kịch bản của các đơn vị không chỉ có nội dung tư tưởng gắn với đường lối của Đảng, chủ trương của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phục vụ chính trị, phù hợp với đặc trưng của loại hình kịch hát, phong cách nghệ thuật của đơn vị, tính vùng miền địa phương, mà còn phải đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của nhóm đối tượng khán giả (khách hàng) quen thuộc của các đoàn, nhà hát.

Trong khi đó, nguồn doanh thu chính của các đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc hiện nay chính là biểu diễn phục vụ lễ hội và những vở diễn đề tài quá khứ lại phù hợp với không gian hội hè đình đám với những trang phục lộng lẫy, rực rỡ hoặc những trang phục dân gian bình dị, đơn sơ gắn với cuộc sống chân quê, dễ lôi cuốn đông đảo người dân đến thưởng thức. Các vở diễn phục vụ lễ hội này luôn mang đậm tính khuyến giáo đạo đức truyền thống và kết thúc có hậu nhằm phê phán những cái xấu, cái ác, khẳng định cái tốt, cái thiện, đồng thời phù hợp với không khí hội xuân luôn hướng đến sự lạc quan, vui vẻ, an lành, thiện tâm, may mắn cho cả làng. Còn nếu dựng vở diễn đề tài hiện đại thì sẽ không bán được vé và cũng hiếm nơi nào đặt hợp đồng biểu diễn vì sợ nội dung vở ít nhiều đụng chạm đến lãnh đạo địa phương. Do đó, theo nhiều lãnh đạo các đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc, đoàn hay nhà hát của họ chỉ dựng vở đề tài hiện đại khi có tài trợ và trong hoàn cảnh ngân sách eo hẹp, doanh thu khó khăn, nếu dựng vở đề tài hiện đại mà không có khán giả, không có hợp đồng thì đời sống anh em nghệ sĩ càng khó cải thiện và bản thân đoàn, nhà hát cũng khó hoàn thành nhiệm vụ… 

 Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do sân khấu kịch hát thiếu vắng trầm trọng kịch bản được viết chuyên cho từng thể loại tuồng, chèo, cải lương và kịch dân ca.

Theo nhiều lãnh đạo các đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc, đoàn hay nhà hát của họ chỉ dựng vở đề tài hiện đại khi có tài trợ và trong hoàn cảnh ngân sách eo hẹp, doanh thu khó khăn, nếu dựng vở đề tài hiện đại mà không có khán giả, không có hợp đồng thì đời sống anh em nghệ sĩ càng khó cải thiện và bản thân đoàn, nhà hát cũng khó hoàn thành nhiệm vụ…

(Nguồn: Trần Thị Minh Thu – Báo Điện tử Văn hóa, Bộ VHTTDL)