Nguy cơ mất một chiếng chèo cổ xứ Đoài

Sau khi có thông tin Nhà hát Chèo Hà Tây (tiền thân là đội chèo Cổ Phong) sẽ sáp nhập với Nhà hát Chèo Hà Nội, ngày 6/9/2008, một số nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ, khoa học vốn yêu nghệ thuật Chèo đã có thư ngỏ gửi các đồng chí lãnh đạo TP Hà Nội và Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội, với mong muốn giữ lại Nhà hát Chèo Hà Tây như một đơn vị nghệ thuật độc lập, để giữ gìn nghệ thuật đặc sắc Chèo xứ Đoài.
Thủ đô nên có 2 Nhà hát Chèo
Thư ngỏ nói trên đã được các nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ như PGS. Hà Văn Cầu (thành viên sáng lập đoàn chèo Cổ Phong), GS.NSND Trần Bảng (nguyên Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn, Bộ VHTT cũ), nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Hội viên Hội nhà Văn VN), nhà văn Hoàng Minh Tường (Ban Sáng tác Hội nhà Văn VN), TS Nguyễn Xuân Diện (Hội viên Hội Văn nghệ dân gian VN), soạn giả Chèo Xuân Cung, nhà văn Trần Nhương (Hội viên Hội nhà Văn VN), nhà nghiên cứu Yên Giang (Hội viên Hội Văn nghệ dân gian VN), TS Đoàn Trần Lâm (GĐ kiêm TBT Nhà xuất bản Thế giới mới) cùng ký tên.
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì Nhà hát Chèo Hà Tây, tiền thân là đội chèo Cổ Phong, được thành lập từ năm 1957 bởi các tên tuổi như Lộng Chương, Hà Văn Cầu, Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Nguyễn Đình Hàm, với mục đích khôi phục nghệ thuật chèo Việt Nam. Theo “Hán Việt từ điển” của học giả Đào Duy Anh thì “Cổ Phong” có nghĩa là “Nét đẹp xưa”. Như vậy, giữa khi ảnh hưởng của Chèo văn minh và Chèo cải lương từ thời Pháp thuộc vẫn chưa phôi pha, các cụ đặt ra Đội Chèo “Cổ Phong” để khẳng định nét đẹp cổ truyền, mong những nét đẹp đó được chấn hưng.
PGS Hà Văn Cầu kể lại: “Tháng 7 năm 1954, khi cuộc họp hai bên Pháp – Việt ở Tân Giã bắt đầu thì ở Liên khu III, Sở Văn hoá – Thông tin giao cho chúng tôi đi tập hợp các nghệ nhân chèo ở 11 tỉnh thuộc Liên khu về liên hoan mừng chiến thắng, tổ chức ở Đồng Văn (Hà Nam). Do triệu tập quá gấp, nên các nghệ nhân có vốn gì diễn vốn ấy. Sau ba ngày biểu diễn, chúng tôi kinh ngạc trước tài năng kỳ lạ và vốn liếng phong phú của các cụ, các bác.

Mong giữ được truyền thống Cổ Phong
“Khi có thông tin sẽ sáp nhập Nhà hát Chèo Hà Tây vào Nhà hát Chèo Hà Nội, chúng tôi đã có đề xuất với lãnh đạo Sở VH, TT & DL Hà Nội là nên giữ nguyên Nhà hát Chèo Hà Tây và xin lấy lại tên cũ là Nhà hát Chèo Cổ Phong, trực thuộc Sở VH, TT & DL Hà Nội. Một Thủ đô Mátxcơva có đến 3 – 4 nhà hát cùng một loại hình, vì mỗi nhà hát đó đại diện cho văn hoá bản địa từng vùng” .
Đạo diễn Trần Quang
Giám đốc nhà hát chèo Hà Tây

Tháng 12 năm đó, lại có Đại hội Văn công toàn quốc. Các cụ nghệ nhân Liên khu III lại thêm một lần nữa, làm kinh ngạc toàn thể giới văn nghệ sĩ có mặt ở Thủ đô. Sau đó, một số anh chị em tự tập hợp nhau thành một tổ nghiên cứu học tập vốn cũ. Hàng tuần, chúng tôi gặp nhau vào tối Thứ bảy tại nhà anh Lộng Chương, số 47 phố Hàm Long, Hà Nội để thảo luận, trao đổi. Đến tháng 7/1957, chúng tôi lập ra đoàn Cổ Phong. 5 anh em chúng tôi có gì bán nấy, kể cả phương tiện đi lại duy nhất là chiếc xe đạp, góp lại được 2.500 đồng”.
Chủ trương này được các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, các nhạc sĩ, hoạ sĩ… như Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Kim Lân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng… ủng hộ hết lòng. Các văn nghệ sĩ đã nghiên cứu và chỉnh lý những vở chèo cổ, các nghệ nhân Năm Ngũ, Minh Lý, Nguyễn Đức Chiêu, Nguyễn Văn Thống, Phạm Hồng Lô… đã miệt mài truyền nghề cho lớp diễn viên trẻ tài năng mong đem lại luồng sinh khí mới cho chiếu chèo dân tộc.
Trải qua hơn 50 năm hoạt động, đội chèo Cổ Phong, giờ là Nhà hát Chèo Hà Tây, đã khẳng định được một bản sắc riêng, tiêu biểu cho chiếng chèo Xứ Đoài. Không sa đà vào làm chèo cải biên, Đoàn đã tập trung dàn dựng và nghiên cứu hầu hết các tác phẩm chèo cổ Việt Nam như Vân dại, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ… Những vở diễn đó không chỉ làm xôn xao giới nghệ thuật Việt Nam mà còn chinh phục được các nghệ sĩ nước ngoài như đạo diễn Liên Xô Vaxiliép. Ông đã phải thốt lên “Chèo – nghĩa là tuyệt vời” sau khi xem Đoàn diễn.
Chính vì những lý do đó mà trong thư ngỏ của mình, các nhà nghiên cứu văn hoá, nghệ thuật nhấn mạnh: “Chúng tôi xin được nhắc lại rằng Đoàn chèo Cổ Phong đã ra đời rất sớm, trước cả các đoàn chèo của Trung ương và Hà Nội ngày ấy. Đoàn đã có đóng góp lớn trong việc phục hồi và phát triển phong cách chèo cổ. Thật là một vốn quí vô giá của đất nước. Chúng tôi cho rằng Thủ đô đã được mở rộng địa giới hành chính, và với một Thủ đô lớn như vậy, nên có 2 nhà hát chèo cùng tồn tại, mỗi nơi có một phong cách riêng thì văn hóa Thủ đô càng thêm phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc”.
Chèo xứ Đoài – một di sản văn hoá độc đáo
Theo một số tư liệu thì trong “tứ chiếng chèo” thì chiếng chèo Đoài nổi danh một thời ngang dọc, làm nức lòng gần xa, mà điển hình là chiếc nôi Thạch Thất. Từ thời phong kiến, Thạch Thất nổi lên những phường chèo điển hình với những nghệ nhân chèo cao tuổi còn sống vẫn tiếp tục lên sân khấu biểu diễn như cụ Nguyễn Khắc Nhân, 93 tuổi ở Canh Nậu, cụ Nguyễn Văn Khánh, 89 tuổi ở Lại Thượng, cụ Nguyễn Thị Đo, 78 tuổi ở Thuý Lai…
Ở chiếng chèo Đoài Thạch Thất hầu hết các phường chèo đều tuân thủ những lề lối, tập tục quy định: Trước khi phường chèo xuất quân phải sắm một lễ trầu cau, ông trùm sai người có lộc, đặt lên bàn thờ để lễ Thánh, lễ trình Tổ nghề. Trước hôm đi biểu diễn các kép không được ngủ chung với vợ. Tại nơi biểu diễn thường có tấm liếp, hoặc ảnh phông để quây buồng trò, trong buồng trò cũng sắm một lễ gồm quả cau, lá trầu để ông trùm vái lạy trước khi ra vai diễn.
Một điều quy định là người vác bó giáo mác (đạo cụ biểu diễn) đến sân khấu phải do một người khác đỡ xuống chứ không được tự ý đặt xuống. Người đem dàn gõ đặt trước cho ông trùm thì không được đặt mặt trống xuống chiếu, chỉ được đặt tang trống nằm nghiêng, còn ông trùm mới là người đặt ngửa trống. Điều cấm ngặt là không được xỏ dùi qua họng mõ, không được ai thử trống trước ông trùm. Trải chiếu phải là người vui tính để đêm diễn được suôn sẻ.

Từ xa xưa, các đào kép chèo tập hợp lại với nhau thành lập những phường chèo do ông trùm chỉ huy. Ở vùng Đoài Thạch Thất, đặc biệt có 2 trùm chèo: trùm đứng và trùm dậy. Trùm đứng là người có uy tín tập hợp đào kép, là người có kinh tế khá giả, lo chi phí việc luyện tập, dầu đèn, điển hình là trùm Ất ở phường Cấm. Còn trùm dậy là người am hiểu nghệ thuật, có khả năng dạy đào kép từ hát múa đến ra bộ, điển hình là trùm Đán Nhọ ở phường Cấm, trùm Quắt ở Canh Nậu…

Ngoài ra, trong phường chèo còn có trùm cơ như tổng đài bây giờ để phân bổ, nhắc nhở các vai diễn, cách thức, lề lối, tránh phạm huý đối với đào kép… Tổ chức phường chèo trước Cách mạng tháng Tám cũng do các gia đình trùm dựng nên, chứ không có tổ chức xã hội nào thành lập. Một điểm chung là ảnh hưởng của các gia đình với phường chèo rất lớn, các gia đình này thường là gia đình cụ trùm, mà đào kép chính của phường chèo cũng ở trong gia đình ấy, như phường chèo Phú Kim do gia đình cụ trùm Móm dựng nên, kép chính lại là con trai Đán Nhọ – một kép hài nổi tiếng, kép Cang là cháu nội, một tay trống chèo số một vùng Đoài, hay như phường của cụ Trùm Bến thì đào kép chính lại cũng là con trai Nguyễn Văn Biên và con gái Nguyễn Thị Đo.

Ở phường Canh, cụ Nguyễn Khắc Hoè làm trùm thì con cháu Nguyễn Khắc Ân, Nguyễn Khắc Chữ, Nguyễn Khắc Nhân sắm kép… Thời bấy giờ, mỗi phường chèo chỉ trên dưới 10 người nên phải đảm nhiệm nhiều vai, là kép thì đóng cả kép chính, kép phụ; là đào thì đóng cả đào chín, đào lệch. Còn dàn nhạc thường hai, ba cây; nếu kéo nhị thì kéo cả hồ, nếu thổi sáo thì thổi cả tiêu; nếu đánh trống thì cả trống cái, trống đế, sanh pan. Dàn nhạc có thể thiếu nhị hoặc thiếu sáo nhưng trống thì phường chèo nào cũng phải có (vụng chèo khéo trống). Sinh hoạt của phường chèo do trùm đứng lo, tiền công, tiền thưởng cũng bình xét chia loại: công nhất, công nhì, công ba…
Riêng trống chèo, người giữ nhịp làm sôi động đêm diễn bao giờ cũng được hưởng công nhất. Ngoài ra mỗi phường chèo còn có một người chuyên quẩy hòm, phục trang, đạo cụ biểu diễn. Việc học vai, vở phần lớn đào kép không biết chữ, chủ yếu bằng cách truyền khẩu cho nhau, vì thế các tích trò diễn viên thường thuộc cả vở, nhất là những vở chèo cổ tác giả khuyết danh như: Quan âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình – Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh – Tôn Trọng, Từ Thức… Đó đều là những tích chèo trung, hiếu, tiết, nghĩa mà người đời coi trọng.