Ngày xuân theo Thị Mầu lên chùa

20616945_1897390427152623_2110224213974607726_o

Hai hình tượng: một động, một tĩnh, một nóng, một lạnh không những được xếp cạnh nhau mà còn đan xen vào nhau, có chỗ chồng xếp lên nhau thật là tài tình qua thủ pháp âm nhạc. Đặc biệt, âm nhạc trong lớp trò này đã đạt tới độ tinh xảo. Nó vượt lên trên những thủ pháp thông thường của âm nhạc đơn âm để tạo nên ngôn ngữ biểu hiện đa thanh mang tính kịch sâu sắc.

Trong di sản Chèo truyền thống có nhiều lớp trò đến ngày nay vẫn tiếp tục toả sáng, in đậm vào ký ức thẩm mỹ của người Việt. Một trong những viên ngọc sáng chói đó là lớp Chèo “Thị Mầu lên chùa” trong vở Chèo Quan Âm Thị Kính nổi tiếng. Đây là lớp trò diễn đặc sắc không chỉ về những thủ pháp nghệ thuật tài tình làm say lòng khán giả mà còn biểu hiện trình độ tư duy thẩm mỹ rất sâu sắc và uyên bác, đặc biệt là trong lĩnh vực âm nhạc. Ngày xuân, ta hãy đến với các chiếu Chèo truyền thống xứ Đoài, Kinh Bắc, xứ Đông, xứ Nam để cùng chiêm ngưỡng viên ngọc đó.
Giữa một không gian linh thiêng và thanh tịnh của nhà chùa, bỗng bất ngờ xuất hiện một Thị Mầu ngồn ngộn vẻ “phàm trần” trong sắc màu lộng lẫy. Những tà áo dài màu cánh sen cùng với yếm thắm, khăn xanh rực rỡ tung bay, uốn lượn trong những vòng múa khoáng đạt và cuồng nhiệt – tượng trưng cho sự khát khao yêu đương mãnh liệt, sự say đắm, đam mê cháy bỏng của một con người căng tràn nhựa sống.
Tương phản lại, Thị Kính trong trang phục nâu sồng, dáng vẻ bình lặng vô cảm – tượng trưng cho tâm hồn một con người đã “vô vi”, nương cửa Phật “nhất tâm thiền định”, rũ bỏ mọi ảo vọng của cuộc sống trầm luân.
Hai hình tượng: một động, một tĩnh, một nóng, một lạnh không những được xếp cạnh nhau mà còn đan xen vào nhau, có chỗ chồng xếp lên nhau thật là tài tình qua thủ pháp âm nhạc. Đặc biệt, âm nhạc trong lớp trò này đã đạt tới độ tinh xảo. Nó vượt lên trên những thủ pháp thông thường của âm nhạc đơn âm để tạo nên ngôn ngữ biểu hiện đa thanh mang tính kịch sâu sắc.
Đây là một cuộc đối thoại, một cuộc giao duyên “một phía” rất độc đáo. Thị Mầu thả sức bộc lộ, giãi bầy tình yêu say đắm của mình bằng những câu hát giao duyên, đôi lúc cởi mở đến sỗ sàng:
– Người đâu đến ở chùa này
Cổ cao ba ngấn lông mày nét ngang
(Ấy mấy thầy tiểu ơi)
– Thầy như táo rụng sân đình
Em như gái dở đi rình của chua
(Ấy mấy thầy tiểu ơi)
– Cau non tiện chũm lòng đào
Trầu têm cánh phượng thiếp trao cho chàng
(Ấy mấy thầy tiểu ơi)…
Những lời lẽ “có cánh” đó qua âm hưởng của điệu hát Ví dân gian đồng bằng Bắc Bộ đã được “Chèo hoá” thành lối Nói lửng, Nói lệch đầy biểu cảm, rồi bất ngờ bừng lên – nôn nao và háo hức – trong điệu Cấm giá và Bình thảo. Hai điệu hát này đầy sức tươi trẻ cứ bay vờn, quấn quyện, ôm trùm lấy đối tượng giao duyên. Đây là những làn điệu có màu sắc lạ trong Chèo. Nó không phải nhẩm nha giãi bầy, êm đềm thắm thiết như Sa lệch, Đường trường. Cũng không phải là cái ồn náo dân dã, hồn nhiên của hát Sắp, mà là một thứ âm nhạc giao duyên trực diện, mê đắm và cuốn hút như được bật ra qua sự dồn nén của tình cảm con người.
Cũng cần phải tính đến yếu tố vũ đạo đặc sắc của lớp trò này đã tôn âm nhạc lên cái điểm tột cùng trong việc thể hiện tính cách Thị Mầu. Những bước đi uyển chuyển, những đường lượn bay bướm như quấn quýt, hối thúc, mời chào thậm chí cả khát khao dâng hiến. Khi câu hát “cau non tiện chũm lòng đào”, hai tay người diễn như nâng “đôi gò bồng đảo” một cách gợi tình đầy “khiêu khích”. Tiếp đến “trầu têm cánh phượng” hai cánh tay giơ lên cao và mở rộng ra như khoe cả thân thể đầy quyến rũ để “thiếp trao cho chàng” với động tác hai tay vớt từ dưới lên hướng về đối tượng như trao gửi hiến dâng một cách nồng nàn và táo bạo.
Âm nhạc trong lớp trò được phát triển theo hai cực đối lập. Trong khi làn điệu của Thị Mầu được đẩy lên tột đỉnh của sự sôi động, cuốn hút trong sự hợp tấu đầy đặn của cả dàn nhạc nồng nhiệt tòng theo, thì phần âm nhạc của Thị Kính lại được giản lược đến tột cùng trong sự bình lặng, mộc mạc qua lối hát nói mang âm hưởng “tụng” của nhà Phật với tiếng mõ chùa khô khốc đệm theo.
Trong khi giai điệu của Thị Mầu bay bướm, sôi động với thủ pháp đa phần nhịp ngoại (biến phách, nghịch phách trong âm nhạc phương Tây) thì giai điệu của Thị Kính lại chỉ dùng “chân chỉ” nhịp nội, bình ổn trong suốt cả câu hát nói:
“Niệm nam mô A Di Đà Phật, tôi niệm nam mô A Di Đà Phật!”…
Giai điệu này cùng với tiếng mõ đều đều được trì tục, lúc ẩn lúc hiện. Có lúc lời tụng nổi lên xen kẽ với điệu hát Bình thảo, có lúc chỉ còn giữ lại tiếng mõ còn âm hát chỉ phát thầm với làn môi mấp máy của Thị Kính tạo nên một mạch chảy âm thanh bình lặng không ngừng. Đây là một thủ pháp mang tính chuyên nghiệp ở trình độ cao mà sáng tạo dân gian đã bắt gặp trí tuệ hàn lâm, bác học.
Thị Mầu lên chùa là một hiện tượng hy hữu trong ca kịch dân tộc Việt Nam với một tư duy đa thanh phức hợp nhiều chiều, nhiều lớp qua sự sáng tạo và tiếp nhận thảm mỹ ở cấp độ cao. Nó xứng đáng là một viên ngọc, một sáng tạo tài hoa kiệt xuất của cha ông…
(Nguồn: Đôn Truyền. Hồn quê trong di sản – NXB Văn học, 2007)