Học tập Hề Chèo – tục mà thanh

IMG_1097

Con người từ tín ngưỡng phồn thực cho đến các truyện dân gian đều mượn cái tục để chuyển tải một nội dung tư tưởng, phản ánh những quan niệm nhân sinh. Dù cái tục là biểu tượng cho ước mơ về sự sinh tồn phát triển của con người cổ xưa trong tín ngưỡng phồn thực, hay cái tục là phương tiện nghệ thuật để chứa đựng tiếng cười phê phán xã hội trong các truyện cười dân gian thì đều giống nhau ở chỗ rất thanh trong ý nghĩa của nó.
Con người từ tín ngưỡng phồn thực cho đến các truyện dân gian đều mượn cái tục để chuyển tải một nội dung tư tưởng, phản ánh những quan niệm nhân sinh. Dù cái tục là biểu tượng cho ước mơ về sự sinh tồn phát triển của con người cổ xưa trong tín ngưỡng phồn thực, hay cái tục là phương tiện nghệ thuật để chứa đựng tiếng cười phê phán xã hội trong các truyện cười dân gian thì đều giống nhau ở chỗ rất thanh trong ý nghĩa của nó. Từ cội nguồn tín ngưỡng phồn thực rồi hoà theo dòng chẩy của văn nghệ dân gian, dường như đã có một dòng văn chương nghệ thuật mượn cái tục để thể hiện thái độ của người nghệ sĩ trước hiện thực xã hội, nhất là trong văn chương trào phúng và phần nào đó trong văn học hiện thực phê phán. Tiêu biểu nhất là thơ Hồ Xuân Hương, và những biểu hiện trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.
Có một hiện tượng mà chưa ai lý giải là, các tác phẩm có ý tưởng lành mạnh nhưng mượn cái tục làm phương tiện nghệ thuật (và chỉ dừng lại là phương tiện nghệ thuật) thì bao giờ cũng được lưu truyền rộng rãi hơn nhiều tác phẩm hay khác. Chúng tôi quả quyết rằng nếu tổ chức một cuộc điều tra xã hội học thì tính bình quân đầu người, trong mỗi người Việt Nam, những câu chuyện mà người ta nhớ nhất, kể lại hoặc được nghe kể lại nhiều nhất là truyện tiếu lâm, nhà thơ được nhiều người biết nhất là Hồ Xuân Hương, và những miếng Hề Chèo người ta nhớ nhất chính là những miếng Mẹ Đốp bốc miệng Xã trưởng bỏ vào thắt lưng, anh Hề Mồi kể chuyện “Oan xin sữa”, chú hề Chèo theo hầu Từ Thức tán về cái “bàn bốc” của tiên, hai chú tiểu tranh nhau làm cột để trói Giáng Hương vào. Nếu coi ý tưởng của tác phẩm là khái niệm của nghĩa chữ thì cái tục chính là một thứ mực in bền nhất làm cho mặt chữ chẳng bao giờ nhạt phai. Văn chương nghệ thuật hễ cứ nhờ vào cái tục thì thấm sâu, lan rộng, truyền lâu là một sự thường kỳ lạ. Nó kỳ lạ bởi không dễ gì lý giải được. Nhưng lại là sự thường vì nó đã diễn ra từ ngàn đời nay trong phạm vi trên toàn nhân loại. Cũng như mọi người, tôi cũng có thể đưa ra một vài điều kiến giải. Song đó không phải là chủ đề cần nói đến hôm nay. Trong tham luận ngắn này tôi chỉ muốn xin thưa rằng sử dụng cái tục trong tác phẩm nghệ thuật sân khấu là việc có thể làm và đôi khi nên làm vì cái tục có một thế mạnh đặc biệt vào loại siêu hạng mà các hình thức nghệ thuật phi tục không dễ gì đọ được. Song, cái tục cũng như là độc dược, dùng nó không phải dễ. Nó có thể cứu sống mạng người khi các phương dược khác đã hoàn toàn vô hiệu. Nhưng nó làm chết người cũng chỉ trong một vài giây phút mà thôi.
Vậy thời nên sử dụng cái tục như thế nào để tạo sức hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh mà vẫn đảm bảo tác phẩm không thô thiển dung tục? Bầy cho nhau cách làm chẳng dễ, mà ai đã chịu nghe ai, mỗi người đều sẽ có cái cách của mình. Nhưng tôi nghĩ rằng những người sáng tạo nên cùng trở về với những kinh nghiệm, những cách thức mà cha ông để lại trong Chèo truyền thống.
Chúng ta đều biết, Hề Chèo có rất nhiều thủ pháp gây cười mà trong cuốn “Hề Chèo” của giáo sư Hà Văn Cầu. “Tiếng cười trên sân khấu Chèo” của Trần Việt Ngữ – Hoàng Kiều và nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu Chèo khác đã phân tích và đánh giá. Song, nếu như chúng tôi không nhớ lầm thì cũng chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu sâu về cái tục và thủ pháp sử dụng cái tục trong Chèo. Cho dù chưa ai nghiên cứu nó như một công trình hoặc một chương mục trong một công trình thì cái tục vẫn là một biểu hiện đặc biệt trên sân khấu Chèo truyền thống.
Ngày nay bàn về việc giữ gìn sự lành mạnh của nghệ thuật sân khấu nghĩa là chống lại những biểu hiện thiếu lành mạnh, thô thiển, dung tục, thậm chí sa đoạ, chúng tôi thiển nghĩ nên khảo sát về cái tục trên sân khấu Chèo để rút kinh nghiệm từ những thành tựu nghệ thuật của cha ông mà vận dụng vào sân khấu hôm nay, sao cho trong khi chống những biểu hiện dung tục, thô thiển, chúng ta không rơi vào sự cực đoan gạt bỏ tất cả những thủ pháp nghệ thuật có sử dụng cái tục, gạt bỏ cái chất đời hồn nhiên đầy sức sống của những miếng trò hay.
Xem lại trò diễn, đọc lại kịch bản, chúng ta dễ dàng nhận thấy Hề Chèo đã sử dụng cái tục, nhưng tục mà vẫn thanh. Xin dẫn ra một vài ví dụ để cùng khảo sát:
Ví dụ 1: Chi tiết Mẹ Đốp bốc miệng Xã trưởng bỏ vào thắt lưng trong Quan âm Thị Kính. Chi tiết này chúng ta ai cũng đã từng xem nhiều lần, không cần phải thuật lại. Điều đáng nói ở đây là ai cũng biết thường ngày cái đoạn thắt lưng mà Mẹ Đốp dùng để gói lời Xã trưởng nằm đúng vị trí của cái gì rồi, và hẳn là các cụ quan viên đều phải coi đó là cái chỗ “uế tạp” như Xã trưởng từng kêu lên “Sao mày lại đem gói vào đấy, nó uế tạp mồm tao!”. Song người xem không hề bị cái đoạn thắt lưng kia gợi tục, gợi dục mà lại thích thú bật lên tiếng cười vì Mẹ Đốp đã coi cái lời Xã trưởng, cái lời Xã trưởng cũng chỉ ngang hàng như cái “uế tạp” ấy mà thôi! Đây chính là dị bản đặc biệt của cái câu tục ngữ “miệng quan trôn trẻ” nhưng thú vị hơn là đem xếp cái “miệng nhà quan có gang có thép” vào cái chỗ uế tạp nhất theo cách nói đầy vẻ khinh thị của các bậc “quân tử”, “đại nhân”. Ở đây, rõ ràng cái thô tục không hiện hình mà tiếng cười trào lộng mang ý nghĩa xã hội lại vang lên mạnh mẽ.
Ví dụ 2: Chuyện “Oan xin sữa”, câu chuyện đại lược rằng: Chú lính hầu (tức chú Hề Mồi) kể chuyện vợ đẻ nhưng phải đi làm đồng. Ở nhà con nhỏ khát sữa. Chú ta phải cầm bát sang xin sữa của chị hàng xóm mới ở cữ. Chẳng may gặp lúc chị ta đang ngủ say, chú Hề không tiện đánh thức, liền vén yếm chị ta lên vắt sữa cho con. Chị ta tỉnh thức vùng dậy tát cho một cái đến rụng răng. Chú Hề kêu oan và xin quan xét lại cho được nhờ. Quan lớn nói: “Tình của mày được, nhưng lý của mày hỏng rồi, xét thế nào lại được việc ấy”. Chú Hề liền bảo: “Bẩm quan lớn, mọi khi có nhiều việc hỏng cả lý lẫn tình, quan cũng còn cho được thì quan…”, quan chặn họng ngay:
– Xà, cái thằng! Chỉ được cái… láo!
Rõ ràng qua chuyện “Oan xin sữa” ta thấy: Cái hành động vắt sữa người đàn bà đang ngủ kia cũng đáng gọi là tục được. Nhưng nó vẫn không thô, không khêu gợi gì. Bởi vì trước hết, nó là chuyện bịa, không ai làm thế cả. Nhưng điều quan trọng hơn là qua chuyện bịa ấy để nói một điều rằng: “Mọi khi có nhiều việc hỏng cả lý lẫn tình mà quan vẫn xử cho là được”. Nói tục vậy cho vui và kiếm cớ vạch tội tham nhũng bất chấp công lý của quan, chỉ ra lối nguỵ biện của quan khi thay đen đổi trắng. Trong vụ xin sữa này, nếu như quan ăn của đút mà bênh cho thì hẳn là quan sẽ phán rằng: Anh ta không hề bóp vú trộm mà chỉ vắt trộm sữa mà thôi. Cái tội ăn trộm sữa cho con thơ đang đói khát thì cũng có thể tha thứ được.
Ví dụ 3: Chuyện cái “bàn bốc” của anh Hề theo hầu Từ Thức. Trong câu chuyện về tiên, anh Hề hỏi Từ Thức cái gì ở trước ngực tiên thì Từ Thức trả lời là cái quạt của tiên.
Hề: Vứt đi rồi! Tôi hỏi trong cái quạt cơ!
Từ Thức: Trong cái quạt là cái yếm tiên.
Hề: Người trông mặt mũi thế này mà lại hoá đần. Tôi hỏi ở trong cái yếm cơ mà!
Từ Thức: Đó là… vú tiên!
Hề: Dở thật, nay “Tử viết”, mai “Tử viết” thế mà lại gọi cái đó là vú.
Từ Thức: Thế thì mày gọi là gì?
Hề: Tôi gọi nó là… “bàn bốc”.
Từ Thức: Sao lại gọi nhảm thế?
Hề: Ừ thế tôi hỏi bác, lúc bác gần cô tôi, bác không bốc thì bác lấy đũa bác gắp à?
Rõ ràng anh Hề đã nói đến cái hành vi thô tục mà vẫn cứ thanh. Vì sao vậy? Bởi vì anh Hề dù có nói tới thì cũng chỉ là gợi cho người nghĩ tới hành vi đó mà hình dung ra chứ Hề không miêu tả tỉ mỉ và lại nói chệch ra bằng từ “bốc” chứ không phải cái từ mang đúng khái niệm về hành vi thô tục. Điều quan trọng hơn cũng vẫn là cái ý nghĩa toát ra từ cái chuyện “bàn bốc” ấy. Nghe Hề gọi vú tiên là bàn bốc thì tiếng cười bật lên mà dường như người ta cũng chưa hiểu ngay được vì sao mình cười. Nhưng chỉ sau khi tiếng cười vừa dứt thì người ta nhận ra ngay rằng anh Hề đã châm biếm cái thói đài các rởm của những kẻ tự cho mình là quân tử, hiền nhân. Họ chuyên dùng những từ hoa mỹ cầu kỳ để chỉ những thứ hành vi mà họ cho là thô tục, thấp hèn. Nhưng chính họ có khi còn đam mê hơn cả. Chẳng qua họ cũng chỉ là hạng:
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
hay là:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong
như Hồ Xuân Hương đã nói mà thôi.
Qua ba ví dụ trên và qua những chi tiết, câu thoại trong Hề Chèo có sử dụng cái tục ta nhận thấy mấy điều sau đây:
1) Cái tục chỉ được dùng ở mức độ tạo cảm quan sinh động gây ấn tượng mạnh để người nghe tiếp nhận cái ý tưởng cần được tiếp nhận.
2) Cái tục không miêu tả bằng hành vi do diễn viên diễn lại. Cái tục chỉ được thuật lại bằng ngôn ngữ ngữ ngôn. Nó chỉ gợi trí, không gợi cảm. Nó chỉ gõ cửa ý thức con người, không đánh thức bản năng sinh vật.
3) Cái tục chỉ là phương tiện, không là mục đích. Nó luôn luôn được dùng để chuyển tải những ý nghĩa xã hội của tiếng cười.
Từ cách xử lý cái tục của Hề Chèo truyền thống, nhìn lại việc trình bày cái tục hay nói rộng hơn là những “sinh hoạt đời thường” của con người trên sân khấu gần đây ta thấy: Chúng ta nói tục mà không đạt được cái thanh. Tại làm sao vậy?
Tại vì:
1) Cái tục đã bầy ra quá mức cần thiết để chuyển tải ý tưởng của trò diễn.
2) Cái tục không dừng lại ở ngôn ngữ ngữ ngôn trong đối thoại mà nhiều khi thể hiện bằng ngôn ngữ hành động do người diễn viên dùng cơ thể mình diễn tả lại. Vì vậy nó gợi cảm, thậm chí gợi dục.
3) Điều quan trọng nhất chính là cái tục đã trở thành mục đích, được trình bày trên sân khấu để đáp ứng nhu cầu “mục sở thị” của một bộ phận khán giả.
Nó hoàn toàn không chứa đựng ý nghĩa xã hội của tiếng cười trong trò diễn.
Sử dụng cái tục như thế đương nhiên là làm cho các miếng trò tục tĩu, vô bổ và đôi khi có hại. Sân khấu chân chính ngày nay và mai sau không bao giờ chấp nhận cái tục được trình bày như thế! Và tất nhiên những mảnh trò như vậy sẽ bị coi là không lành mạnh.
Chính nghệ nhân trước đây cũng đã có người từng mắc sai lầm khi dùng cái tục để mà gợi tục như say ứng diễn cao hứng thêm một câu cho nhân vật Mãng ông khi nói với Thị Kính: “Mày bảo cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thế tao bảo mày ngồi lên cái cọc buộc trâu mày cũng ngồi à?”. Thật là chẳng những thô tục mà lại còn ác nữa! Câu nói thô tục ấy đã làm tan biến hết những cảm xúc thẩm mỹ đẹp đẽ mà cả lớp trò Thiện Sĩ hỏi vợ gặp lão say vừa mới tạo nên. Nó bộc lộ ngay cái “vô văn hoá” ở một người nghệ sĩ biểu diễn. Thiết tưởng đó cũng là cái vết xe đổ của người xưa mà nay ta phải tránh kẻo lỡ một tí thôi, chúng ta sẽ để lộ ngay cái vô văn hoá của mình ra.
Hề Chèo có tục mà vẫn thanh. Học tập Hề Chèo, ngày nay chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng cái tục một cách nghệ thuật để tăng thêm sức hấp dẫn và ghi đậm vào tâm thức của người xem những ấn tượng không thể phai mờ về tác phẩm.
TRẦN ĐÌNH NGÔN (Tham luận tại hội thảo “Vì một nền sân khấu lành mạnh”, đã in trên TCSK, báo Văn hoá và tạp chí Toàn cảnh 1996)