Đoàn chèo Hải Phòng ra mắt vở diễn mới

Đoàn chèo HP vừa ra mắt khán giả vở diễn mới “Những đứa con oan nghiệt” của tác giả NSND Doãn Hoàng Giang; đạo diễn NSND Xuân Huyền; âm nhạc Hạnh Nhân; chỉ đạo nghệ thuật Hoàng Mai.
Vở diễn “Những đứa con oan nghiệt” được bắt đầu với câu chuyện tướng cướp Tư Chớp bí mật đánh tráo đứa con ruột của mình lấy con người thầy đồ với mong muốn mình sẽ có một đứa con ham học, sáng đường công danh sự nghiệp. Nhưng Đức – đứa con được Tư Chớp nâng niu, hy vọng lớn lên vẫn trở thành một kẻ độc ác, bất nhân, mang bản chất của một kẻ cướp liều lĩnh. Nhân – con ruột của Tư Chớp – sống trong sự nuôi dạy nghiêm cấm của thầy đồ trở thành một chàng trai thông minh, giàu lòng nhân áiiiiCả Nhân – Đức và Long – con trưởng của Tư Chớp đều đem lòng yêu mến Hạnh – cô thôn nữ xinh đẹp, dịu dàng. Nhân đỗ Trạng nguyên, muốn xin cưới Hạnh làm vợ; ghen ghét và hũng hãn, Long giết chết Nhân – người em ruột của mình mà không hay biết.
“Những đứa con oan nghiệt” là một tác phẩm sân khấu có tính giáo dục sâu sắc, với triết lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” môi trường sống và giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.Sự nuôi dạy bằng tình yêu và lòng nhân hậu là phương pháp tốt nhất để mỗi con người trưởng thành có phẩm chất và tâm hồn cao đẹp./.
Administrator Account

Bước tiến mới của Đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc

Chúng tôi đến đoàn nghệ thuật chèo Vĩnh Phúc trong không khí sôi nổi, bận rộn, các diễn viên của đoàn đang luyện tập các tiết mục dân ca đón Xuân. Chị Nguyễn Thị Thơm, Trưởng đoàn cho biết: “Năm nào cũng vậy, cứ truớc Tết Nguyên Đán một tháng là đoàn lại chuẩn bị cho các chương trình dân ca, kịch ngắn… phục vụ nhân dân đón Xuân. Năm nay, đoàn mời các nghệ sĩ nhà hát Chèo Trung ương về dàn dựng chương trình…”. Cả buổi chiều, các tiết mục được dàn dựng và chỉnh sửa theo yêu cầu của đạo diễn. Cảnh dựng, nhạc cụ và trang phục được đầu tư khá đầy đủ, các nghệ sĩ luyện tập hết mình như đốt cháy cả không gian nhỏ hẹp của hội trường trụ sở.
Tâm sự với các nghệ sĩ trong đoàn, chúng tôi được biết thêm về những khó khăn, vất vả của đoàn. Để có được những tiết mục hay, hấp dẫn phục vụ khán giả trong dịp Xuân và các lễ hội, mỗi nghệ sĩ trong đoàn phải chịu khó luyện tập, tập đi tập lại nhiều lần, hầu như họ không có ngày nghỉ. Tập đến khi nào đạo diễn cảm thấy ổn thì mới dừng. Những giọt mồ hôi rơi xuống vẫn không hề làm giảm đi sự nhiệt tình, đam mê của các nghệ sĩ. Chị Nguyễn thị Lệ Thuý, nghệ sĩ Đoàn Chèo cho biết: “Được cống hiến cho công chúng những vở diễn hay và độc đáo là niềm vui của nghệ sĩ chúng tôi. Chính vì vậỵ, mỗi tiết mục phải đòi hỏi dày công luyện tập và có trách nhiệm với chính nó”.

Đoàn nghệ thuật Chèo tiền thân là đoàn cải lương Vĩnh Phúc, đến năm 2005 mới chính thức đổi tên. Theo như chị Thơm, Truởng đoàn: “Vì nhu cầu thưởng thức của quần chúng, Vĩnh Phúc lại mang hơi thở của vùng Trung du Bắc Bộ nên chúng tôi muốn công chúng cảm nhận hơi thở ấy qua nhiều vở diễn do Đoàn dựng như: “Lời ru hai người mẹ”, “Trang chủ Sơn Đông”… Qua đó, khán giả sẽ cảm nhận về lịch sử vùng đất và con người Vĩnh Phúc. Nhớ lại, những năm tháng mới thành lập, đoàn còn gặp vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất, yếu tố con người; những vở diễn và nhiều tiết mục ngắn không có kinh phí nên không được đầu tư, trang phục diễn cho các diễn viên còn thiếu. Cả đoàn có vài diễn viên, những buổi biểu diễn rời rạc, nghèo nàn… không thu hút khán giả.

Đến năm 2005, khi chuyển thành Đoàn nghệ thuật Chèo Vĩnh Phúc, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở VH, TT&DL đã đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Đoàn một cách khang trang hơn, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010. Năm 2009, nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho đoàn hơn 3 tỷ đồng, đoàn có nguồn doanh thu biểu diễn và thu khác là 77 triệu đồng. Hiện nay, đoàn có 46 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 30 diễn viên. Đoàn đã dựng được nhiều vở diễn hay như: “Hoa khôi dạy chồng”, “Trang chủ Sơn Đông”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Biển khổ”… Nhiều vở diễn được đầu tư kinh phí; diễn viên, nhạc công cũng được đầu tư về nhạc cụ, trang phục… Nhiều vở diễn đã đoạt giải cao. Vừa qua, đoàn đã đạt được 2 Huy chương vàng và 2 huy chương bạc trong Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc tại Quảng Ninh.

Khi đoàn dựng vở “Trang chủ Sơn Đông” của tác giả Trần Đình Ngôn đã đầu tư rất nhiều về kinh phí, thời gian dàn dựng, trang thiết bị cảnh trí, phục trang và đạo cụ. Vở chèo có nội dung khá hấp dẫn, nói về công lao của tướng Trần Nguyên Hãn – anh hùng dân tộc Việt Nam, người có công lao to lớn trong chiến dịch Chi Lăng Xương Giang, được người đời ban tặng 4 chữ lớn “Khai Quốc Nguyên Huân” (công đầu mở nước)… từ đó người Vĩnh Phúc hiểu thêm về lịch sử đất mình và các tỉnh bạn cũng hiểu thêm về văn hoá mảnh đất của mình. Vở “Hoa khôi dạy chồng” của tác giả Đoàn Hoàng Giang, đạo diễn Bùi Đắc Sừ cũng được đoàn đầu tư cả về kinh phí, nội dung lẫn hình thức, với diễn xuất tốt đã phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhân dân các xã miền núi trong tỉnh.

Với tổng số 110 buổi, trong đó có 90 buổi phục vụ nhân dân các xã miền núi; 10 buổi phục vụ các ngày lễ lớn; 2 buổi phục vụ đối ngoại, giao lưu và 8 buổi có doanh thu. Số lượt người xem khoảng 150.000 lượt người, các vở diễn của đoàn không chỉ phục vụ vùng đô thị mà chủ yếu phục vụ nhân dân các làng, xã vùng sâu, vùng xa… đã đón nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội.

Nguyễn Thu Thuỷ

Đoàn nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang 50 năm xây dựng và trưởng thành

Đoàn Nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang tiền thân là Đoàn nghệ thuật Chèo Sông Thương, được thành lập từ tháng 6 năm 1959. Năm mươi năm qua, dù phải trải qua bao thăng trầm gian nan vất vả, Đoàn vẫn vững vàng vượt khó đi lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tin yêu giao phó, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước, vào sự nghiệp bảo tồn và phát triển bộ môn nghệ thuật Chèo truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc.

Khi mới thành lập, Đoàn đã mời các nghệ nhân Nhà hát Chèo Trung ương về truyền dạy, rồi được bổ sung diễn viên, nhạc công có kiến thức cơ bản để dàn dựng những vở chèo ngắn, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, cổ vũ thi đua lao động sản xuất, bài trừ tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu của chế độ cũ. Đó là các vở: “Hương lúa tình quê”, “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”, “Mối tình Điện Biên”, “Tiến lên phía trước”, “Cho đẹp quê ta”… Những năm tiếp theo, Đoàn dàn dựng những vở chèo truyền thống dài như: “Suý Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”. Việc dàn dựng và biểu diễn thành công các vở diễn lớn đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng của Đoàn trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện hoạt động. Hành trang vào nghề của Đoàn lúc bấy giờ còn rất thô sơ, nghèo nàn (4 chiến xe ba gác, 4 chiếc đèn măngxông, không có tăng âm tiếng nói, phông màn được may bằng vải thô, một số phục trang cũ được dùng cho nhiều vở diễn), chế độ bồi dưỡng biểu diễn cho diễn viên, nhạc công, kỹ thuật không có. Vậy mà nghệ sĩ vẫn nhiệt tình, say đắm với nghề, ánh đèn măngxông vẫn luôn rực sáng, tiếng trống chèo vẫn rộn rã khắp các làng quê từ vùng cao Sơn Động đến các nông-lâm trường Lục Nam, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà… Nhiều nơi, do đường đèo nhỏ xe cải tiến không đi được, lãnh đạo đoàn và các nghệ sĩ lại phải khiêng vác đạo cụ, cảnh trí, xoong nồi cấp dưỡng vào điểm diễn để tổ chức phục vụ nhân dân.

Chương trình biểu diễn của Đoàn trong giai đoạn này, ngoài những vở chèo dài còn có những ca cảnh, những bài hát mới, dân ca quan họ, những điệu múa dân gian để phục vụ nhu cầu đa dạng của khán giả. Năm 1962, tại Hội diễn tổng hợp 9 tỉnh được tổ chức tại Thường Tín (Hà Tây), Đoàn đã tham dự với hai vở chèo “Tiến lên phía trước” (tác giả Minh Châu, đạo diễn Bá Lưu) và “Ba anh em họ Điềm” (tác giả Lê Dân, đạo diễn Nguyễn Vinh). Cả hai vở đều được Hội diễn đánh giá khá cao về nội dung và chất lượng nghệ thuật.

Năm 1963, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, hai đoàn nghệ thuật Chèo của hai tỉnh được sáp nhập và đổi tên thành Đoàn nghệ thuật Chèo Hà Bắc.
Lúc này, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đang bước vào giai đoạn gay go ác liệt. Thi hành chỉ thị của UBND tỉnh và Ty Văn hoá-Thông tin, Đoàn đã phải đi sơ tán ở nhiều nơi, chia thành nhiều tốp xung kích với những tiết mục ngắn gọn, nhanh chóng có mặt ở những nơi giặc Mỹ đánh phá để biểu diễn động viên, cổ vũ cho tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân. Tiếng hát chèo của quê hương Bắc Giang lại cất lên giữa làn mưa bom bão đạn, động viên các chiến sĩ vững thêm tay súng, làm dịu bớt nỗi đau mất mát hy sinh. “Tiếng hát át tiếng bom” của các nghệ sĩ đã hoà cùng phong trào thi đua trong cả nước, thể hiện niềm tin vào chiến thắng, vào tương lai tươi sáng của cả dân tộc.
Đêm biểu diễn, ngày lao động làm cỏ, gặt lúa giúp dân, các nghệ sĩ đi đến đâu cũng được dân nhớ, dân thương. Nhiều nghệ sĩ của đoàn được nhân dân ghi nhớ cho tới bây giờ, như: Văn Thành, Huy Bái, Văm Thơm, Đăng Nhật, Diễm Loan, Dương Lễ, Lê Phan, Hữu Luận, Thuý Tình, Thu Hiền, Thuý Lan, Văn Khách, Thanh Hải, Khánh Tuyên…
Chương trình biểu diễn của Đoàn trong thời kỳ này là các vở diễn: “Nguyễn Văn Bé”, “Cô gái Long Châu Sa”, “Tình quân dân”, “Làng Thương”, “Cai Tranh đốt quán”, “Trên đồi pháo”… cùng với những ca khúc, điệu múa phù hợp với nhịp độ sôi động vừa chiến đấu vừa sản xuất của nhân dân. Bên cạnh những tiết mục ngắn, Đoàn còn dàn dựng những vở diễn dài như: “Tiếng hát làng Pơ Rao”, “Lứa tuổi xuân”, “Dòng phù sa”, “Tấm Cám”…
Năm 1970, tuy chiến tranh vẫn ác liệt nhưng Đoàn vẫn dàn dựng tiết mục để phục vụ nhân dân và tham gia hội diễn tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh) vở: “Tiếng làng PơRao” (tác giả Ngô Quang Thắng; Nguyễn Hữu Luận chuyển thể và đạo diễn). Vở diễn đã gây xúc động, chiếm được tình cảm của người xem.
Năm 1971, theo tiếng gọi của tiền tuyến, tỉnh Hà Bắc đã thành lập Đội văn công xung kích vào chiến trường phục vụ các chiến sĩ. Nhiều nghệ sĩ của đoàn, như Lê Phan, Hữu Luận, Khánh Tuyên, Hoàng Linh, Minh Chính, Hồng Thắm… đã xung phong vào Đội, lên đường ra tiền tuyến. Các anh, các chị đã vượt bom đạn, mang tiếng hát, mang nghĩa tình sâu nặng của quê hương Bắc Giang tới nơi chiến trường rực lửa để động viên các chiến sĩ. Kết thúc đợt diễn, Đội Văn công xung kích đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, được Bộ Tư lệnh chiến trường 559 và UBND tỉnh Hà Bắc tặng Bằng khen. Và trong những năm hào hùng ấy, nhiều cán bộ, nghệ sĩ của Đoàn đã xung phong lên đường nhập ngũ. Có những đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khói lửa. Các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu lại trở về tiếp tục mang tài năng nghệ thuật của mình chung lòng xây dựng đoàn ngày một trưởng thành.
Thời kỳ 1975-1990, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đoàn Chèo Hà Bắc bước vào tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, dàn dựng nhiều vở diễn cổ vũ cho công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, như: “Dòng phù sa”, “Chàng rể bố vợ”, “Những người nói thật”…
Năm 1980, tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, Đoàn Nghệ thuật Chèo Hà Bắc lại gây được sự chú ý của ngành chèo và sự yêu mến của khán giả thủ đô Hà Nội bằng vở diễn “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” (tác giả Đào Thiệm, đạo diễn Trần Bảng). Đoàn đã biểu diễn tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, diễn ba đêm liền tại Nhà hát lớn thành phố, báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo Bộ Văn hoá, Hội sân khấu Việt Nam và nhiều đêm diễn liên tục tại các rạp hát Thủ đô, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng Cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh phòng không không quân và nhiều đơn vị khác.
Cùng với vở “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ”, Đoàn đã dựng vở “Nguyên Phi Ỷ Lan”, “Học sỹ Nguyễn Cao”, “Ngọn cờ đại nghĩa”, “Tiếng hát đưa nôi”, “Hoàng tử Pôn Na Vông”, “Những người nói thật”, “Những đứa con oan nghiệt”… Ở mỗi vở có sự thành công khác nhau, nhưng tất cả đều bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, của Nhà nước và địa phương, đó là: giáo dục tình yêu quê hương đất nước; ca ngợi những tấm gương anh hùng cách mạng, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ca ngợi tình đoàn kết gắn bó thuỷ chung “Vừa là đồng chí, vừa là anh em” của các dân tộc Đông Dương; ca ngợi những con người dám nghĩ, dám làm đưa quê hương ngày thêm giầu đẹp; đồng thời phê phán mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu làm ảnh hưởng đến bước tiến chung của toàn xã hội.
Năm 1988, Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc tại thành phố Nam Định (Hà Nam Ninh), Đoàn đã tham dự với vở “Oan trái làng Tằm”, tác giả Xuân Hồng- Trần Minh, đạo diễn Ngọc Phương, biên đạo múa NSND Trần Minh.
Từ năm 1988 đến năm 1995 là thời kỳ đã để lại ấn tượng sâu sắc, khó quên trong cuộc đời làm nghề của các nghệ sĩ tỉnh Hà Bắc. Thời kỳ đầu, do chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường nên các đoàn nghệ thuật đều gặp khó khăn, bế tắc. Tỉnh Hà Bắc có bốn đoàn nghệ thuật (đoàn Nghệ thuật Tuồng, đoàn Chèo, đoàn Kịch nói, đoàn Dân ca Quan họ) hầu như đều phải ngừng hoạt động.
Đứng trước thực trạng đó, Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao đã có đề án củng cố xếp sắp lại bộ máy tổ chức của các đoàn nghệ thuật, trình UBND tỉnh ra Quyết định tinh giảm biên chế, từ bốn đoàn chỉ để lại hai đoàn (Đoàn Nghệ thuật Chèo và Đoàn Dân ca Quan họ).
Ba đơn vị Kịch, Tuồng, Chèo được hợp nhất thành Đoàn nghệ thuật Chèo, trong đó nòng cốt là cán bộ diễn viên của Đoàn nghệ thuật Chèo. Từ 130 cán bộ nhân viên của ba đơn vị và đội xe máy phải giảm biên chế chỉ còn 31 người. Một số diễn viên xuất sắc của đoàn Tuồng, đoàn Kịch nay chuyển sang làm diễn viên Chèo quả là một khó khăn.
Sau khi củng cố tổ chức, Đoàn đã nhanh chóng tổ chức tập huấn chuyên môn và bắt tay dàn dựng lại các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chinh phụ hai chồng” và “Đôi ngọc lưu ly”. Cuối năm 1993, Đoàn đã thành lập một đội gồm 16 cán bộ, diễn viên, nhạc công vào biểu diễn phục vụ cán bộ và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh…
Cũng trong giai đoạn này, Đoàn đã xây dựng chương trình tham dự thi Tiếng hát Chèo hay toàn quốc (1992) tại Hải Dương và tham dự thi các trích đoạn chèo, tuồng hay toàn quốc (1993) tại Ninh Bình. Cả hai cuộc thi, Đoàn đều đoạt được những thành tích cao với 6 Huy chương vàng, 5 Huy chương bạc và được Bộ VHTT tặng Bằng khen, trong đó có cả những diễn viên chèo mới cũng được Huy chương bạc.
Năm 1992, 1993 Đoàn được tặng Bằng khen của Bộ VHTT, Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam, UBND tỉnh Hà Bắc, UBND tỉnh Tây Ninh.
Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Đoàn được đổi tên là Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Bắc Giang.
Ý thức được đầy đủ vinh dự và trách nhiệm lớn lao của mình, Ban lãnh đạo đoàn đã nhanh chóng xây dựng đề án Đoàn vẫn tiếp tục định hướng kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, khai thác đề tài lịch sử viết về những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá của địa phương, phát huy thế mạnh của mảng chèo dân gian, bên cạnh đó vẫn dàn dựng những đề tài hiện đại làm cho chương trình nghệ thuật của đoàn thêm đa dạng, phong phú phục vụ được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mọi tầng lớp khán giả. Từ quan điểm chỉ đạo trên, những năm gần đây dàn kịch mục của đoàn đã có nhiều vở diễn được công chúng mến mộ như: “Hoàng thúc Lý Long Tường”, “Phò mã Thân Cảnh Phúc”, “Chiếc bóng oan khiên”, “Lời ru hai người mẹ”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chuyện tình sau chiến tranh”, “Nước mắt tuổi thơ”, “Gươm báu truyền ngôi”… Bên cạnh những vở dài, hàng năm Đoàn còn dựng một số các trích đoạn chèo ngắn, chương trình ca nhạc dân gian để phục vụ khán giả, phục vụ các chương trình giao lưu nghệ thuật, phục vụ các đoàn khách Trung ương, tỉnh bạn về thăm và làm việc với Bắc Giang.
Điều đáng mừng là bên cạnh lớp diễn viên thế hệ đi trước đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT như Hồng Tính, Trần Thông, Thanh Nhàn, Hương Quế, và các nghệ sỹ xuất sắc như Xuân Hậu, Thanh Hải… Đoàn có một dàn diễn viên trẻ như Mạnh Lẫm, Quỳnh Mai, Thanh Hường, Anh Tuấn, Lệ Xuân, Đình Hưng, Hoàng Chung, Anh Quân, và những nhạc công như Tiến Mạnh, Văn Tuyên… đã nhanh chóng trưởng thành, đạt được nhiều thành tích cao trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao.
Năm 2001, tại Liên hoan Sân khấu chèo truyền thống tổ chức tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), dàn diễn viên trẻ của đoàn đã gây được ấn tượng tốt đẹp trước toàn thể bạn nghề của làng Chèo cả nước và của Ban Giám khảo hội diễn qua vở “Suý Vân”. Nghệ sỹ trẻ Quỳnh Mai đã được tặng hai giải thưởng, 01 Huy chương vàng và giải Nghệ sỹ múa đẹp nhất.
Năm 2002, tại Hội thi “Hát Dân ca” các tỉnh Trung du đồng bằng Bắc Bộ do Bộ VHTT tổ chức, một lần nữa các nghệ sỹ trẻ lại khẳng định được tài năng của mình, với 05 tiết mục dự thi Đoàn đã được Ban Giám khảo tặng thưởng 1 Huy chương vàng toàn đoàn, 3 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc tiết mục.
Năm 2003, với đội hình hơn 40 cán bộ nghệ sỹ, Đoàn đã tổ chức đợt biểu diễn dài ngày với gần 30 đêm diễn trên địa bàn các tỉnh phía Nam, như Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kom Tum-Đắc Lắc và một số các đơn vị lực lượng vũ trang. Chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại những ấn tượng sâu sắc khó quên với cán bộ và nhân dân những nơi đoàn lưu diễn.
Từ năm 1999 đến 2009, năm nào đoàn cũng thực hiện được từ 140 đến 150 đêm diễn trở lên, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Với gần 100 vở diễn, 70 Huy chương vàng, bạc của tập thể và cá nhân trong các kỳ hội diễn từ những năm 1980 trở lại đây, Đoàn đã đươc tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL, UBND tỉnh về thành tích công tác. Năm 2004, Đoàn vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2009 Đoàn vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.
Kế thừa truyền thống 50 năm đầy vẻ vang, tập thể và lãnh đạo, nghệ sỹ đoàn Nghệ thuật Chèo Bắc Giang tâm nguyện sẽ phấn đấu không ngừng, coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân, khuyến khích các tài năng, sáng tạo nhiều vở diễn có giá trị tư tưởng lành mạnh, tính nhân văn sâu sắc và giá trị nghệ thuật cao, quyết tâm xây dựng đoàn Nghệ thuật (Chèo, Ca múa nhạc) Bắc Giang thành.
Ngô văn Trụ – Trần Thông

Giữ gìn bản sắc chèo Nam Ðịnh

Nam Ðịnh được coi là chiếc nôi của nghệ thuật Chèo. Dường như mỗi người dân nơi đây khi sinh ra đã được đắm mình trong những làn điệu chèo ngọt ngào, đằm thắm. Từ chiếng chèo Nam đến Nhà hát chèo Nam Ðịnh là cả một quá trình vượt khó đi lên để tiếng trống chèo mãi âm vang trong lòng công chúng.

Đoàn chèo Nam Định biểu diễn phục vụ
nhân dân tại xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc.

Nam Định là vùng đất cổ. Các thần tích, thần phả, văn bia, thư tịch còn lưu giữ cho thấy: Từ thời tiền sử, người Việt cổ đã di cư từ vùng đất trung du xuống vùng hạ lưu ven biển Nam Ðịnh, sinh kế bằng nghề chài lưới và trồng lúa nước. Từ trong lao động, các sinh hoạt văn hóa dân gian và tín ngưỡng dân gian ra đời. Nói Nam Ðịnh là chiếc nôi của nghệ thuật chèo bởi đây là quê hương của sử thi Mẫu Liễu Hạnh – một trong “tứ bất tử” được truyền tụng trong dân gian bao đời nay. Các vật thờ cúng trong lễ hội Phủ Dày hằng năm và các làn điệu hát chầu văn được phô diễn trong các giá đồng đủ nói lên điều đó. Nam Ðịnh cũng là quê hương của Trạng nguyên Lương Thế Vinh, người đầu tiên nghiên cứu công phu đặc điểm, quy tắc nghệ thuật chèo thông qua tác phẩm nổi tiếng Hý phường phả lục. Với gần 1.700 di tích lịch sử, văn hóa trải đều khắp địa bàn trong tỉnh, cứ mỗi độ xuân về, hội làng được tổ chức thì ta luôn bắt gặp tiếng trống chèo vang lên như chất kết dính quá khứ và hiện tại ở những vùng quê hồn hậu, thuần khiết. Trong mối quan hệ với các chiếng chèo xứ Bắc, xứ Ðông, xứ Ðoài, chiếng chèo Nam xưa có hàng trăm gánh hát ở khắp làng quê. Các gánh hát tồn tại như một lẽ tất yếu, một nhu cầu không thể thiếu trong sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ văn hóa của người lao động. Câu ca dao cổ: “Ăn no rồi lại nằm khoèo/ Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem” đã phản ánh sinh động đời sống tinh thần của người nông dân xưa kia, bởi lẽ khi xem các nhân vật trong các tích chèo ta thấy bóng dáng của những con người trong đời sống thực. Ở đó là các cô thôn nữ thảo hiền, nết na, nhân hậu như cô Tấm (vở Tấm Cám), Thị Phương (vở Trương Viên), Thị Kính (vở Quan âm Thị Kính), Châu Long (vở Lưu Bình – Dương Lễ); những mụ dì ghẻ độc ác như mẹ Cám (vở Tấm Cám); những bà mẹ chồng nghiệt ngã như Sùng Bà (vở Quan âm Thị Kính), v.v.

Trên cái nền phát triển rộng khắp của các gánh hát chèo, sau là đội chèo, tới năm 1959 Ðoàn nghệ thuật Chèo Nam Ðịnh được thành lập. Chỉ ba năm sau, chèo Nam Ðịnh đã khẳng định tên tuổi của mình với công chúng cả nước bằng Huy chương Bạc cho vở diễn Ðôi ngọc lưu ly tại Hội diễn mùa xuân năm 1962. Một năm sau, vở diễn Chị Tâm bến Cốc vinh dự được công diễn phục vụ Ðại hội đại biểu Ðảng bộ tỉnh Nam Ðịnh và anh chị em diễn viên được chụp ảnh lưu niệm với Bác Hồ tại Ðại hội tối 21-5-1963. Ðặc biệt, vở chèo lịch sử Trần Quốc Toản ra quân đã gây tiếng vang lớn trong cả nước với hàng trăm đêm diễn, năm 1971 vở diễn được Hãng phim truyện Việt Nam quay thành phim nhựa phục vụ bộ đội và đồng bào vùng sâu, vùng xa, điều ấy như một thứ hữu xạ tự nhiên hương để hình ảnh và tiếng hát chèo Nam Ðịnh được chắp cánh bay xa. Ðến tận bây giờ, Nhà hát chèo Nam Ðịnh được ví như một thứ vàng mười đã qua bao lần thử lửa.

Hiện nay, Ðoàn nghệ thuật Chèo Nam Ðịnh được UBND tỉnh nâng cấp thành Nhà hát Chèo Nam Ðịnh. Bởi vậy cùng với việc bảo đảm đời sống, tạo đất diễn cho các nghệ sĩ, diễn viên trên chiếc nôi chèo, công tác khôi phục, bảo tồn, truyền bá nghệ thuật chèo truyền thống cũng như đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho nghệ sĩ, diễn viên tham gia đào tạo hạt nhân cho các đội chèo đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Với phương châm “khán giả không đến rạp thì người hát chèo sẽ tìm đến khán giả”, trong nhiều năm qua Nhà hát Chèo Nam Ðịnh đã tổ chức diễn lưu động tới các vùng quê, các lễ hội, trong trường học. Bằng tình yêu nghệ thuật, lòng đam mê vốn văn hóa truyền thống, Nhà hát Chèo Nam Ðịnh đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả là gìn giữ và phát huy vốn cổ của dân tộc, qua đây những nghệ sĩ chèo đã nhận ra sức sống mãnh liệt của nghệ thuật hát chèo vẫn còn ấm nồng trong lòng công chúng. Song song với việc dàn dựng và khôi phục các vở diễn dài, từ cuối những năm 90, Nhà hát Chèo Nam Ðịnh cho ra đời loại hình sân khấu nhỏ mang tên “Chiếu Chèo Nam”. Nắm bắt được tâm lý người xem, nhà hát đã dày công sưu tầm và dàn dựng những trích đoạn chèo ngắn, hấp dẫn, đôi khi là trích đoạn chèo đã trở thành kinh điển trong nghệ thuật chèo Việt Nam như Thị Mầu lên chùa, Súy Vân giả dại, Xã trưởng mẹ Ðốp, Cu Sứt huyện tể. Nhà hát cũng thành công trong biên soạn, dàn dựng và biểu diễn trên “Chiếu Chèo Nam” 13 giá hát văn và múa hát chầu đồng trong đạo tứ phủ (Phủ Dày) – một loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo của quê hương Nam Ðịnh. Ðến đây, công chúng không chỉ được thưởng thức những tinh túy trong các trích đoạn chèo cổ mà còn được đắm mình trong giai điệu dân ca đằm thắm, trữ tình của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. “Chiếu Chèo Nam” vinh dự được biểu diễn phục vụ các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và nhiều đoàn khách trong nước, quốc tế mỗi dịp về thăm Nam Ðịnh.

Nghệ sĩ Ưu tú Huy Soái, Giám đốc Nhà hát Chèo Nam Ðịnh thổ lộ với chúng tôi: Sở dĩ Nam Ðịnh vẫn giữ được hồn cách của lối hát chèo truyền thống là do luôn xác định đúng đắn định hướng phát triển nghệ thuật, nghiêm túc trong khai thác, kế thừa phát triển nghệ thuật chèo cổ, không bị chao đảo trước cơn bão “chèo cách tân”, đồng thời tạo nét riêng bản sắc chèo Nam Ðịnh, đây cũng là hướng đi bền vững trong lòng công chúng đam mê nghệ thuật truyền thống.

Theo Nhân Dân

Nhà hát Chèo Ninh Bình, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển (1959-2009), với nỗ lực không ngừng và tinh thần đoàn kết, học hỏi, đổi mới, sáng tạo, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đúng hướng.

Cán bộ, diễn viên Nhà hát chèo Ninh Bình sau buổi biểu diễn tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc năm 2009.

Trong một buổi tập. Ảnh: Phạm Trường.
Năm 1959, Đoàn văn công Sông Vân được thành lập với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân, các lực lượng vũ trang trong tỉnh. Với lực lượng nòng cốt ban đầu là những cán bộ làm công tác thông tin địch vận, có chút năng khiếu được “trưng dụng” từ các đơn vị trong tỉnh, các tác phẩm của Đoàn phần lớn là những hoạt cảnh có nội dung tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… bước đầu đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân, đồng thời góp phần động viên, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu.

Ngay từ những năm đầu thành lập, Đoàn đã dàn dựng những vở diễn có nội dung gắn liền với lịch sử, truyền thống của quê hương, được nhân dân đón nhận và gây ấn tượng tốt như: Nàng tiên bên núi Thúy, Lá cờ năm xưa, Vườn cam, Trần Quốc Toản, Thái hậu Dương Vân Nga… Lớp các nghệ sỹ đầu tiên của Đoàn văn công Sông Vân được khán giả nhớ và biết đến qua các vai diễn tiêu biểu như: Nghệ sỹ Xuân Cưu, Kim Liên, Hồng Nhạn, Đăng Thanh, Thúy Mùi, Lâm Bình, Xuân Chính… Đây cũng là thế hệ nghệ sỹ đã có những đóng góp tích cực trong việc tham gia biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sỹ tại các trận địa ở trong tỉnh và tận chiến trường miền Nam.

Với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”, các nghệ sỹ Đoàn văn công Sông Vân đã góp phần động viên tinh thần chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược của quân và dân địa phương. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn văn công Sông Vân có sự thay đổi về tên gọi để phù hợp với tình hình như: Đoàn chèo Sông Vân, Đoàn chèo Ninh Bình, Đoàn văn công Ninh Bình… Những đóng góp của Đoàn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước rất đáng trân trọng.

Từ năm 1964, với phương châm tự huấn luyện, tự đào tạo, Đoàn đã có sự phát triển cả về quy mô, số lượng, dần tiến tới một đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Để góp phần động viên, cổ vũ nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, các diễn viên của Đoàn đã chia thành các tốp nhỏ đến các trận địa, đơn vị đóng quân của bộ đội để phục vụ. Đoàn còn vào các chiến trường Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, sang Lào… để phục vụ bộ đội và đồng bào… Đất nước thống nhất, hoạt động biểu diễn của Đoàn tiếp tục làm tròn trách nhiệm tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, xây dựng và kiến thiết quê hương, đất nước, khôi phục và phát triển kinh tế.
Từ năm 1982 đến 1991, Đoàn chèo Ninh Bình sáp nhập với Đoàn chèo Nam Định để thành lập Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Cùng chung suy nghĩ, trách nhiệm và sự tâm huyết với nghề, các nghệ sỹ, diễn viên của Đoàn đã đoàn kết, nhất trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thời kỳ này, Đoàn chèo Hà Nam Ninh đã gây được tiếng vang tại các hội diễn toàn quốc qua các vở diễn. Trong thành tích chung của Đoàn, có sự đóng góp tích cực của các nghệ sỹ, diễn viên Ninh Bình. Tiêu biểu năm 1985, vở diễn “Những người nói thật” của tác giả An Viết Đàm, nghệ sỹ Kim Khuyên đạt huy chương vàng, Lâm Bình đạt huy chương bạc…

Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập, đã mở ra cho Đoàn nhiều thuận lợi và điều kiện để phát triển. 24 cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên khi ấy thuộc các lĩnh vực: chèo, ca múa nhạc, cải lương, kịch nói của Đoàn Hà Nam Ninh, là con em quê hương Ninh Bình đã trở về quê hương để góp sức gây dựng nghệ thuật chèo nói riêng, hoạt động của Đoàn nói chung. Được sự quan tâm, động viên sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Đoàn được đầu tư kinh phí, mua sắm phương tiện, thiết bị, trang phục, nhạc cụ… phục vụ hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Vở diễn đầu tiên sau 17 năm chia tách được Đoàn dàn dựng thành công là vở chèo “Tấm áo bào Hoàng đế”. Đây là vở diễn phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vì đã truyền tải đến người xem giá trị và ý nghĩa lịch sử, truyền thống của quê hương thông qua tác phẩm sân khấu. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã triển khai thực hiện biểu diễn ở cả 2 loại hình là nghệ thuật chèo và biểu diễn ca múa nhạc. Trung bình mỗi năm, Đoàn đã biểu diễn trên 120 buổi phục vụ khoảng 180.000 lượt khán giả. Đoàn thường tổ chức về các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, ven biển để phục vụ nhân dân các vùng khó khăn, ít có điều kiện tiếp cận, thưởng thức các loại hình nghệ thuật.

Nhìn lại quá trình từ năm 1992 đến nay, không phụ sự tin tưởng, kỳ vọng và sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã đầu tư, chuẩn bị chu đáo để có nhiều vở diễn chất lượng cao tham dự các hội thi, hội diễn sân khấu toàn quốc. Những vở chèo như: Nước mắt vua Đinh, Kim Nham, Trương Hán Siêu… là những vở diễn không chỉ khẳng định hướng đi đúng của Đoàn trong việc khôi phục và gìn giữ vốn chèo cổ, mà còn là những vở chèo mang lại thành công cho các nghệ sỹ của Đoàn vì đã xuất sắc giành được các huy chương vàng tại các hội thi, hội diễn như: Nghệ sỹ Lâm Bình, Lý Thanh Kha, Xuân Nghị, Quang Thập, Minh Huệ, Mai Thủy… Mới đây, tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), Nhà hát chèo Ninh Bình đã tham gia vở chèo “Linh khí Hoa Lư” và giành được 1 huy chương vàng cho vở diễn xuất sắc, 6 huy chương vàng, huy chương bạc cho cá nhân các nghệ sỹ.

Kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ nghệ sỹ đi trước, tập thể cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công, công nhân viên Nhà hát chèo Ninh Bình quyết tâm xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, mạnh dạn có những giải pháp nhằm đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhiều năm liền, Nhà hát được Bộ Văn hóa – Thông tin, UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc, bằng khen vì những thành tích đạt được. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Nhà hát vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, có những bước đi vững chắc, khẳng định vị trí của một đơn vị nghệ thuật đối với sự phát triển, đi lên của tỉnh, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có nhiều đóng góp cho nền nghệ thuật tỉnh nhà, để lại trong lòng công chúng yêu nghệ thuật sân khấu Ninh Bình những dấu ấn và tình cảm hết sức trân trọng và đáng quý. Đây sẽ là hành trang, là động lực để tập thể cán bộ, nghệ sỹ, nhạc công, công nhân viên chức Nhà hát chèo Ninh Bình tiếp tục cống hiến, nỗ lực luyện tập để góp thêm cho đời những nốt nhạc vui, những bông hoa nghệ thuật rực rỡ.

Nguyễn Quang Thập
(Giám đốc Nhà hát chèo Ninh Bình)

Nhà hát Chèo Thái Bình kỷ niệm 50 năm xây dựng, trưởng thành và đón Huân chương Độc lập

Ngày 29-12-2009 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh đã long trọng diễn ra Lễ kỷ niệm 50 năm Nhà hát Chèo Thái Bình (1959 – 2009) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Đến dự có các đồng chí Cao Thị Hải – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Cục Nghệ thuật và Biểu diễn, Cục Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; lãnh đạo các sở, ban ngành, các đoàn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh; các thế hệ đạo diễn, diễn viên, nhạc công Nhà hát chèo các thời kỳ.
Nhà hát Chèo được thành lập từ ngày 01-8-1959 với tên gọi ban đầu là Đội văn công Thái Bình, trải qua các thời kỳ với các tên gọi khác nhau, đến 2004 mang tên Nhà hát Chèo Thái Bình. Từ 25 người ban đầu đến nay Nhà hát Chèo có 62 nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công trong đó có 10 nghệ sỹ ưu tú; 26 hội viên hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. 50 năm với bao thăng trầm khó khăn, thử thách, Nhà hát đã dàn dựng gần 80 vở chèo, nhiều hoạt cảnh, ca khúc gồm các thể loại như lịch sử, dã sử, thần thoại, dân gian, truyền thống, hiện đại. Không những thế, tiếng hát chèo của Nhà hát Chèo Thái Bình còn vượt ngàn trùng khơi đến với bạn bè châu Âu, châu Á, châu Mỹ, trở thành sứ giả, hiện diện của một miền quê lúa nước vùng châu thổ sông Hồng, để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn bè quốc tế. Với những thành tích trong lao động sáng tạo nghệ thuật, Nhà hát Chèo Thái Bình đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại qua các kỳ hội diễn, nhiều Bằng khen của Chính phủ, của Bộ VHTT và DL cho tập thể và cá nhân các nghệ sĩ.
Một lần nữa ghi nhận thành tích của Nhà hát Chèo Thái Bình, Chủ tịch nước đã quyết định tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong không khí trang nghiêm, đồng chí Cao Thị Hải thừa ủy quyền của Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận, biểu dương thành tích các thế hệ đạo diễn, diễn viên nhạc công Nhà hát Chèo đạt được thời gian qua, đồng thời giao một số nhiệm vụ Nhà hát cần thực hiện trong thời gian tới, nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng Nhà hát ngày càng trưởng thành vững mạnh, tiếp tục góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tin, ảnh: Hà Dung

55 năm “chiếng chèo bộ đội”

ND – Nghệ thuật chèo truyền thống của nước ta chủ yếu là tứ chiếng chèo nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ: Chiếng Bắc, chiếng Nam, chiếng Ðông và chiếng Ðoài. Kể từ ngày 1-10-1954, với sự ra đời của Ðoàn văn công Tổng cục cung cấp, sau này đổi tên thành Ðoàn văn công Tổng cục Hậu cần (TCHC) và hiện nay là Ðoàn nghệ thuật TCHC, ngành chèo Việt Nam có thêm một người anh em đồng nghiệp.

Các nghệ sĩ Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần biểu diễn tại Trường Sa.
Gọi như thế bởi ngay từ buổi đầu thành lập, hạt nhân chủ yếu của Ðoàn văn công Tổng cục cung cấp là những nghệ sĩ chèo từ các địa phương và đơn vị hội tụ về, góp tài năng và công sức làm nên nhiều tác phẩm chèo nổi tiếng đi cùng năm tháng. Ðó cũng là lý do vì sao hàng chục năm nay, Ðoàn nghệ thuật TCHC vẫn được công chúng gọi là Ðoàn chèo TCHC.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lính chèo có mặt hầu khắp các binh trạm Trường Sơn, có thời gian đoàn phải chia thành nhiều mũi phục vụ bộ đội, TNXP, dân công hỏa tuyến… trên nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến dịch. Những làn điệu chèo mượt mà, những trích đoạn chèo truyền thống, những hoạt cảnh chèo mới tươi vui… của Ðoàn được biểu diễn trực tiếp trên mặt trận và được phát trên sóng Ðài Tiếng nói Việt Nam đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi của quân và dân cả nước. Nhiều thế hệ khán giả hôm nay vẫn nhớ mãi những buổi diễn Trần Quốc Toản ra quân, Nguyễn Viết Xuân, Ðường về trận địa, Lá thư tiền tuyến, Chuyến đò sông Mã, Anh lái xe và cô chống lầy… của Ðoàn văn công TCHC ngày ấy…

Thời kỳ đất nước đổi mới, trong lúc nhiều đơn vị nghệ thuật dân tộc đứng trước sự lựa chọn tồn tại hay không tồn tại và xuất hiện xu hướng thương mại hóa nghệ thuật truyền thống, thì Văn công TCHC vẫn đứng vững trong cơ chế thị trường và kiên định con đường kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, với hàng loạt vở diễn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; ca ngợi tinh thần yêu nước, thương dân, trọng nghĩa tình, phê phán những thói hư tật xấu… Ðặc biệt, bộ ba tác phẩm chèo Bài ca giữ nước của Ðoàn văn công TCHC trở thành một hiện tượng của sân khấu nước nhà những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Nhiều cuộc hội thảo khoa học về bộ tác phẩm này đã được tổ chức và khẳng định: Bài ca giữ nước là mẫu mực của phương hướng cách tân, đổi mới chèo truyền thống, là bộ tác phẩm kinh điển của sân khấu chèo đương đại.

Những năm gần đây, trong môi trường hội nhập và bùng nổ các loại hình giải trí đa phương tiện, ngành sân khấu nói chung và sân khấu truyền thống nói riêng gặp muôn vàn khó khăn. Ngoài ra, Ðoàn nghệ thuật TCHC còn đứng trước nhiều khó khăn về quân số, trang bị, kinh phí, địa bàn hoạt động… Tuy vậy, Ðoàn vẫn tiếp tục phát huy tốt truyền thống của một đơn vị nghệ thuật hàng đầu, luôn coi trọng việc giữ gìn và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, tổ chức dàn dựng được nhiều tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật cao phục vụ bộ đội và nhân dân trong cả nước. 5 năm gần đây, đoàn đã làm sống lại nhiều trích đoạn chèo cổ mẫu mực, như: Lý trưởng, mẹ mõ, Thị Mầu lên chùa, Súy Vân giả dại, Phù thủy sợ ma, Tuần Ty đào Huế… Nhiều tác phẩm vang bóng một thời của đoàn cũng được tái dựng thành công, như: Anh lái xe và cô chống lầy, Ðôi mắt, Người năm ấy… Ðặc biệt, chấp hành chỉ thị của Bộ Quốc phòng, năm 2007 Ðoàn đã tái dựng xuất sắc bộ tác phẩm Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ðồng thời, Ðoàn đã tích cực cộng tác với các tác giả kịch bản và đạo diễn trong và ngoài quân đội; tổ chức tọa đàm, đi thực tế, đặt hàng, thẩm định… để xây dựng nhiều vở diễn mới được dư luận đánh giá cao, như: Dòng chảy thần kỳ, Ánh sao đầu núi, Vụ án sau 20 năm, Ðã một lần, Chuyện người xưa, Trạng Quỳnh, Ðêm trắng… Trong đó, vở Ðêm trắng sau hơn một trăm đêm biểu diễn phục vụ quân dân tại các đơn vị và địa phương được dư luận đánh giá rất cao, đã giành thắng lợi giòn giã tại Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm 2008, với một loạt giải thưởng: Huy chương vàng cho vở diễn; Bằng khen của Tổng cục chính trị và Giải thưởng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dành cho tác phẩm xuất sắc về đề tài Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ba Huy chương vàng và năm Huy chương bạc cho tám diễn viên thể hiện thành công các vai diễn; hai giải thưởng xuất sắc của Hội nghệ sĩ sân khấu dành cho NSƯT Ðào Lê chỉ đạo nghệ thuật vở diễn và nghệ sĩ trẻ Ngọc Cao thể hiện hình tượng Bác Hồ kính yêu…

Còn nhớ vào năm 2004, khi Ðài Truyền hình Việt Nam (VTV) mở chuyên mục Sân khấu truyền hình, Ðoàn nghệ thuật TCHC đã được mời diễn ra mắt chuyên mục này với vở Ðiều đọng lại sau chiến tranh. Từ đó đến nay, Ðoàn đã năm lần được mời lên “Sân khấu truyền hình” với những tác phẩm mới dàn đựng được dư luận mến mộ. Ngoài ra, hằng năm Ðoàn đều tổ chức từ một đến hai đợt hành quân dã ngoại biểu diễn phục vụ khán giả quân dân Trường Sa, Tây Bắc, Việt Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Nam Bộ… và nước bạn Lào. Ở đâu, lính chèo cũng đều được chiến sĩ và đồng bào các dân tộc vô cùng mến mộ, khẳng định uy tín của thương hiệu “Chiếng chèo bộ đội” trong tình cảm của khán giả quân-dân cả nước.

Tiếp sau những tên tuổi như: Tào Mạt, Nguyễn Thành, Nguyễn Thế Phiệt, Xuân Theo, Ngọc Viễn… thế hệ hiện nay của Ðoàn như: Ðào Lê, Thanh Hải, Quốc Trượng, Trung Sinh, Minh Tiến, Phương Thúy, Tự Long, Hiền Lương, Kim Liên, Thùy Linh, v.v. đang tiếp nối xứng đáng truyền thống của thế hệ cha anh. “Chiếng chèo bộ đội” có nhiều tên tuổi thuộc hàng ngôi sao, trong đó có 13 NSƯT. Ðặc biệt, bên cạnh nhiều huân chương cao quý được tặng thưởng qua các thời kỳ, Ðoàn đã được Nhà nước tuyên dương Ðơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập, Ðoàn vinh dự được thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Các thế hệ nghệ sĩ Ðoàn nghệ thuật TCHC luôn luôn khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu ngày 28-3-1967, khi Ðoàn được vinh dự vào Phủ Chủ tịch biểu diễn cho Bác xem.

Chiếu chèo Hà Nam trong hành trình đổi mới

Phòng khán giả buổi dự thi thứ 18/19 của Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tháng 12/2009 tại Cung Văn hóa Việt Nhật (thành phố Hạ Long) như bừng lên, tiếng vỗ tay tưởng chừng như không muốn dứt. Theo cách nói chuyên môn thì các nghệ sĩ đã có một buổi biểu diễn “xuất thần” vở Đợi đến mùa xuân (tác giả cố nhà văn Xuân Trình, chuyển thể Trần Đình Văn, đạo diễn Vũ Ngọc Minh) trước bạn bè đồng nghiệp và khán giả Quảng Ninh…

Lời ca cất lên sao ngọt ngào da diết:
Chỉ tâm nguyện một đời vì những em thơ
Mà phải chịu trăm ngàn cay đắng
Nuốt dòng lệ trong tim thầm lặng
Tôi phải một mình vượt những chông gai…
(hát sử rầu)
Cả một rừng hoa tươi thắm đã giành cho những nghệ sĩ chèo Hà Nam…
Đồng nghiệp cảm động trước sự trưởng thành nhanh chóng về nghề nghiệp của một đoàn nghệ thuật. Còn những nghệ sĩ, diễn viên Hà Nam nước mắt như chực trào ra vì những thành quả, những cố gắng âm thầm của mình cuối cùng cũng đã được bạn bè đồng nghiệp biết đến… mới biết người nghệ sĩ cần sự tri âm da diết thế nào…

Cách Hà Nội hơn 50km, là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, phía Đông giáp Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình, tỉnh Hà Nam theo cách nói của cố giáo sư Trần Quốc Vượng là một địa phương nằm trong vùng “ tứ giác nước” đồng bằng châu thổ sông Hồng – một trong những cái nôi lớn nhất của nghệ thuật chèo cả nước.
Tiền thân của đoàn là Đoàn chèo Hà Nam được thành lập từ 1958. Mười năm sau, 1968 được sát nhập với Đoàn chèo Nam Định thành Đoàn chèo Nam Hà, rồi Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Những thành tựu huy hoàng của đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận xứng đáng bằng các tấm Huân chương, Huy chương…
Tuy nhiên, hành trình đổi mới của Đoàn chèo Hà Nam được đánh dấu bằng sự kiện tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam (tháng 1 năm 1997). Ba tháng sau, tức tháng 4 năm 1997, Đoàn chèo Hà Nam có quyết định tái thành lập, với chức năng và nhiêm vụ hoạt động trên lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, xây dựng các chương trình, tiết mục nghệ thuật sân khấu đậm đà bản sắc dân tộc, biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân địa phương. Khai thác, phát huy nghệ thuật chèo truyền thống và các làn điệu dân ca của tỉnh…
Khi dó toàn đoàn chỉ có vẻn vẹn mười hai con người (cả nghệ sĩ, diễn viên nhạc công, hậu đài, bảo vệ)… trên đủ các lĩnh vực cải lương, ca múa, kịch nói, chèo, được tập hợp dưới sự chỉ đạo của NSUT Lương Duyên và với một cơ sở vật chất quá nghèo nàn… Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng ngay từ đầu, ban lãnh đạo đoàn và anh em đã quyết tâm cùng nhau từng bước xây dựng đoàn. Việc đầu tiên phải nghĩ ngay đến là công tác chuyên môn. Mang danh một đoàn chèo ở một chiếng chèo Nam có tiếng từ thưở xa xưa, vậy mà nòng cốt của đoàn khi mới tái lập chỉ có ba người đã từng là diễn viên chèo: Lương Duyên, Huy Toàn, Tuyết Lan. Các diễn viên khác chỉ hoặc là biết diễn kịch, hoặc là hát mới, hoặc là biết ca cải lương và chưa từng biết hát chèo, diễn chèo. Lớp “tập huấn” hát chèo, múa chèo, diễn chèo được thực hiện song song cùng với việc xây dựng các tiết mục biểu diễn , mà “thầy cô” thị phạm chính là ba nghệ sĩ chèo duy nhất của đoàn; muốn mời các thầy cô trên Trung ương về lắm, nhưng đoàn không có kinh phi chi trả nên không dám “mở lời”. Cả người học lẫn người dạy cứ âm thầm miệt mài như thế…
Nhưng cái khó bó cái khôn, rồi những diễn viên biết nghề chút ít lại không cánh mà bay: sau 5 năm, nghệ sĩ Huy Toàn lên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh làm giảng viên, một số diễn viên trẻ “bay mất”sang đoàn chèo Tổng cục Hậu Cần và đoàn chèo Ninh Bình. Họ đi tuy lòng nặng trĩu nghĩa tình, nhưng vì cuộc sống “rất thực” và vì những ước vọng riêng, họ vẫn cứ phải ra đi. Những người ở lại, phải gồng sức để tìm cách lấp đầy khoảng trống đó…
Chính lòng yêu nghề, sự quyết tâm vượt lên mọi gian khổ vật chất của các nghệ sĩ Hà Nam đã khiến các “thầy chèo” cảm động và họ đã tập hợp được một đội ngũ cộng tác viên sáng giá nhất của làng chèo, các tác giả: Trần Đình Ngôn, Hoài Giao, An Viết Đàm, Lương Tử Đức…; các đạo diễn: NSUT Lê Huệ, NSND Bùi Đắc Sừ, NSUT Hải Thọ, Vũ Ngọc Minh…; các nhạc sĩ: NSUT Hanh Nhân, NSUT Đăng Toàn…; và các họa sĩ: NSUT Dân Quốc, NSUT Bùi Vũ Minh, Hồng Long… Các đạo diễn, nghệ sĩ đã giúp bằng cả tài năng và tấm lòng của những tâm hồn cao khiết vì nghề chèo, vì chiếu chèo Hà Nam.
Bên cạnh nhiều chương trình nghệ thuật tổng hợp phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, ngày lễ của quê hương, đất nước; phục vụ các sở, ban ngành trong tỉnh Hà Nam, dàn kịch mục của đoàn cho đến nay đã khá phong phú, với các đề tài khác nhau.
Bên cạnh những vở diễn mang đề tài danh nhân truyền thống, lịch sử quê hương như: Bài thơ treo dải yếm đào, Tiếng trống bồ đề; Vua đi cày; Tỉnh rượu lúc tàn canh; Bùi Viên cư sĩ… còn phải kể đến các vở chèo truyền thống như: Lưu Bình Dương Lễ; Súy Vân; hoặc các vở đề tài dân gian, hiện đại: Dòng suối cội nguồn; Người nhà quê; Cõi thế đa đoan; Hoa đồng nội và Đợi đến mùa xuân… Với một phong cách biểu diễn giản dị, nhưng lãng mạn, hiện thực mà tinh tế, với những giọng hát chèo ngọt ngào, đằm thắm, vở diễn nào của đoàn cũng được khán giả chào đón nồng nhiệt. Chương trình ca hát dân gian của đoàn cũng đã được dàn dựng khá công phu do chính Trưởng đoàn chỉ đạo nghệ thuật NSUT Lương Duyên dàn dựng với các tiết mục hát dân ca thấm đẫm chất trữ tình, hát chầu văn; cả nhiều giá hát chầu-đặc sản của Hà Nam cũng đã được khai thác, đưa thành những tiết mục biểu diễn ngợi ca tình yêu, khát khao chung thủy, hướng tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống.
Gần 13 năm xây dựng và trưởng thành là cả một quá trình vượt khó đi lên của đoàn chèo Hà Nam. Và để có được những thành tích ấy, trước hết vẫn là tinh thần đoàn kết thống nhất của toàn thể anh chị em nghệ sĩ, nhạc công và cán bộ công nhân viên của đoàn. Ngoài những nghệ sĩ “nòng cốt” của đoàn như :Tuyết Lan, Mạnh Hùng, Trang Nhung, Việt Dũng… không thể không nói đến vai trò lãnh đạo của NSUT Lương Duyên, chị có thể vừa chỉ đạo nghệ thuật, vừa dàn dựng chương trình ca hát, lại vừa là diễn viên hát chính, diễn viên đóng vai chính, rồi cũng chính chị là người đi kí hợp đồng bán vé… không nề hà bất cứ một công việc gì, miễn là có ich lợi cho nghệ thuật, cho đoàn chèo mà chị luôn coi là ngôi nhà thứ 2 của chính mình. Ấy vậy mà ở tuổi ngoài 50 nom Lương Duyên vẫn rất trẻ, trên sân khấu vẫn thấy một Lương Duyên xinh đẹp, đầy lửa với một giọng hát chèo vàng. Chị được bạn nghề ví như một “mụ phù thủy đáng yêu”.
Những năm gần đây, được sự quan tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Hà Nam, đoàn đã có một trụ sở làm việc khá khang trang gồm 2 tầng, tầng 1 là trụ sở làm việc, tầng 2 là sàn tập của diễn viên, nhạc công đồng thời cũng là nơi biểu diễn chiếu chèo Hà Nam.
Dù cho đến hôm nay, đội ngũ của đoàn cũng mới chỉ có 27 biên chế, 7 hợp đồng và một lớp học sinh trung cấp gồm 20 em. Dù cho kinh phí hoạt động nghệ thuật của đoàn vẫn còn quá eo hẹp, nếu không muốn nói là kém nhất so với các đoàn chèo cả nước, thì những nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn kiên định một quyết tâm ngay từ buổi tái thành lập đoàn là xây dựng một Đoàn chèo Hà Nam với một hương sắc riêng, với truyền thống và hiện đại xứng đáng với một vùng đất văn hiến có bề dày văn hoá, giầu cảnh quan trữ tình, giàu trầm tich lịch sử, quê hương của Nam Cao, của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến…
Cuộc thi tài đã khép lại, mà dư âm những lời ca của rnhững nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn như còn vang mãi trong trái tim khán giả:
Khi mây mờ còn che phủ trời xanh
Ta phải biết tin vào bình minh phía trước
Khi ta gieo một mầm xanh xuống đất
Có thể mùa đông giá rét, nó không sao nẩy lộc đâm chồi
Nhưng đến mùa xuân ấm áp ánh mặt trời
Mầm xanh ấy sẽ vươn mình đứng dậy…
Đợi một ngày nắng mới bừng lên…

Nhân dân cuối tuần ngày 29.1.2010

Người giữ lửa cho điệu múa chèo cổ Xa Mạc

Đi theo con đường bê tông trên khúc đê tả ngạn sông Hồng, vòng từ chân cầu Thăng Long hướng về phía Bắc, chúng tôi đến một ngôi làng cổ có cái tên nghe là lạ – Xa Mạc, thuộc xã Liên Mạc, huyện Mê Linh, Hà Nội.

Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược, người giữ lửa cho làn điệu chèo Xa Mạc. (Ảnh: Internet)

Đi theo con đường bê tông trên khúc đê tả ngạn sông Hồng, vòng từ chân cầu Thăng Long hướng về phía Bắc, chúng tôi đến một ngôi làng cổ có cái tên nghe là lạ – Xa Mạc, thuộc xã Liên Mạc, huyện Mê Linh, Hà Nội.

Ít người biết rằng ẩn trong ngôi làng cổ kính này là tiếng trống chèo với làn điệu chèo Xa Mạc có một không hai trong các làn điệu chèo Việt Nam. Và người giữ lửa cho làn điệu ấy là nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược – đội trưởng đội văn hóa thôn Xa Mạc

Ở tuổi ngoại lục tuần, ông Lược vẫn còn “duyên” với chèo cổ quê mình. Ông tâm sự: “Tôi mê hát chèo từ khi tóc còn để chỏm. Lớn lên, mỗi khi nghe tiếng trống chèo ngoài đình là trong lòng đã nhộn nhịp. Từ ngày bao cấp, tiếng hát chèo quê tôi dường như vắng lặng”.

Ông nói thêm: “Nhiều đêm tôi không ngủ được, tự ôn lại những điệu chèo của các cụ để lại mà thấy lo cho một di sản văn hóa phi vật thể của quê hương liệu có bị mai một. Rồi những ngày trong quân ngũ, nhớ quê hương, nhớ tiếng trống chèo da diết, tôi mơ ngày chiến thắng trở về sẽ lại được hát chèo”.

Không biết may cho chèo hay may cho ông Lược, khi đất nước đổi mới, cuộc sống nhân dân khá lên rất nhiều, đời sống văn hóa cũng nhờ đó mà khởi sắc. Ông Lược được bà con tín nhiệm, đứng ra gánh vác việc phục hồi làn điệu chèo chính thống của vùng quê Liên Mạc – điệu Xa Mạc.

Tiếp xúc với người đội trưởng văn hóa thôn Nguyễn Ngọc Lược và bà con thôn Xa Mạc mới thấy người dân nơi đây rất tôn vinh làn điệu chèo cổ của quê mình. Làn điệu chèo này xuất xứ từ thôn Xa Mạc bao đời nay không ai biết, song trong hàng trăm làn điệu của chèo như lới lơ, cỏ lả, trống quân… có làn điệu Xa Mạc đã và đang tồn tại cho đến nay.

Các cụ cao niên trong làng kể lại ngày xưa, người ta thường hát điệu Xa Mạc bên dòng sông, dưới cánh đồng mênh mông để gửi gắm tâm tình cho nhau. Do khoảng cách xa và tiếng hát mang đậm tính chân chất của xóm làng nên được gọi bằng cái tên Xa Mạc (mạc là làng).

Từ cụ già ngoài 80 tuổi đến trẻ lên năm, lên sáu ở thôn đều thuộc làu làu những câu ca dao, thơ lục bát cổ, câu hát đồng dao… được chuyển thành làn điệu Xa Mạc.

Bà con cho biết, thôn đã thành lập được Câu lạc bộ hát chèo truyền thống của Xa Mạc mà chủ nhân chính là nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược. Năm 1998, ông tự bỏ ra gần 20 triệu đồng để mua sắm hệ thống âm thanh, ánh sáng, đạo cụ, thành lập đội hát chèo gồm 20 người. “Tôi mê nó quá, tôi phải làm gì để phục dựng chiếu chèo của quê hương, chứ đâu có thích gì lấy được lời khen”, ông Lược tâm sự.

Đã gần 30 năm nay, ông chưa lúc nào nguôi đi niềm đam mê chèo. Đối với ông, không hát chèo, không sáng tác chèo thì không thể chịu được. Nhớ ngày khởi nghiệp, ông bị nhiều người cho là “hâm” nhưng bỏ mặc ngoài tai, ông vẫn đằng đẵng sưu tầm, kiên trì nghiên cứu, sáng tác. Đến nay, ông đã có trong tay hơn 30 bài hát theo làn điệu chèo Xa Mạc cổ truyền từ thế kỷ thứ 19.

Ông còn viết hàng trăm bài hát chèo, dựng hàng chục trường đoạn, ca cảnh tạo nên vở diễn. Ông còn nhận truyền dạy hát chèo cho hàng chục con cháu. Ai chứng kiến cảnh các cháu tuổi mười tám, đôi mươi theo học hát chèo, thấy lớp học đông vui, chiếu chèo rộn rã đều cảm nhận một làng quê yên bình mà thanh nhã. Các cụ cao tuổi phấn khởi lắm, mọi người đều động viên con cháu đi tập chèo.

Bằng sự đam mê và tinh thần trách nhiệm với mong muốn giữ lấy làn điệu chèo độc nhất vô nhị của làng, ông Lược luôn được bà con tôn vinh và trân trọng.

Đau đáu nỗi lo làm sao để các thế hệ mai sau giữ mãi được niềm say mê điệu chèo quê hương, ông Lược trăn trở: “Cần phải có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa của các cấp chính quyền và cơ quan văn hóa để phát triển và lưu giữ làn điệu chèo Xa Mạc – một làn điệu chèo rất dễ hát và dễ nhớ với những câu, từ dân dã, gần gũi với cuộc sống thường ngày của người dân lao động các vùng quê Bắc bộ./.

Nhà hát chèo Hà Nội: Gánh nặng 9 tỷ đồng?

Vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt và giao cho Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội” với kinh phí 9 tỉ đồng, thời gian thực hiện từ nay đến năm 2015. Đây là nguồn kinh phí đáng mơ ước của mọi Nhà hát, nhất là các đơn vị biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong bối cảnh khó khăn chung của sân khấu nước nhà hiện nay.

Câu hỏi đặt ra là, Nhà hát Chèo Hà Nội sẽ thực hiện đề án này bằng những việc làm cụ thể như thế nào? Phóng viên VNCA đã có cuộc trò chuyện với NSƯT Trần Thị Mai Hương – Phó Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội xung quanh việc này.

Cảnh trong vở “Quan âm Thị Kính” do Nhà hát chèo Hà Nội dàn dựng.

Thưa NSƯT Trần Thị Mai Hương, bà nghe được những phản hồi như thế nào từ phía bạn bè, đồng nghiệp và tâm trạng của tập thể cán bộ diễn viên Nhà hát Chèo Hà Nội khi được tin đề án này được phê duyệt?
+ Nói chung, bạn bè đồng nghiệp đều mừng cho Nhà hát Chèo Hà Nội thôi. Họ nói rằng Chèo Hà Nội được quan tâm và vì thế có cơ hội thể hiện mình. Còn anh em trong đoàn thì phấn khởi lắm, vì đây là đề án chúng tôi đã ấp ủ từ lâu. Đề án này sẽ cho Nhà hát Chèo Hà Nội phục dựng những vở diễn đã làm nên tên tuổi của mình một thời, ngoài ra còn có các công việc như bảo tồn và lưu giữ các làn điệu chèo, các loại nhạc cụ dùng trong chèo, các loại phục trang, cách bài trí sân khấu… Chúng tôi hiểu rằng, mỗi thế hệ diễn viên qua đi, nghệ thuật chèo lại có những mất mát, rơi rụng. Cho nên, việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội là việc làm cần thiết trong các hoạt động văn hóa hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Mừng đấy, nhưng cũng rất lo. Hàng đống việc phải làm. Đấy là cả một “gánh nặng” đòi hỏi sự cố gắng của cả tập thể nhà hát. Ngoài việc đảm nhận thực hiện đề án này, chúng tôi vẫn phải dựng 2 vở mới/ mỗi năm và có những suất diễn định kỳ.
– Nhiệm vụ chủ yếu mà đề án đặt ra là bảo tồn 15 vở chèo mà Nhà hát Chèo từng dàn dựng. Có điều gì khác biệt giữa dựng vở “bảo tồn” và dựng vở theo “định kỳ” theo sự phân bổ của ngân sách không, thưa bà?
+ Thực ra chúng tôi đã bắt tay vào phục dựng các vở diễn này từ khi đề án chưa được phê duyệt cơ. Vừa qua, chúng tôi đã dựng lại “Quan âm Thị Kính” mà khán giả vừa được xem trực tiếp qua “Nhà hát truyền hình” và trích đoạn “Nàng Sita” trong đêm tưởng niệm kịch tác gia Lưu Quang Vũ ở Nhà hát Tuổi trẻ. Tất nhiên, những vở diễn nằm trong đề án được đầu tư tốt hơn nên có điều kiện làm chi tiết hơn, kỹ càng hơn trong đầu tư cho diễn viên, đạo diễn, âm thanh, ánh sáng, phục trang, sân khấu. Trong những năm tiếp theo, các vở diễn như “Lý Công Uẩn”, “Tấm Cám”, “Nàng Mai Vạn Lịch”, “Ngọc Hân công chúa”, “Lý Thường Kiệt”, “Đêm hội Long Trì”… vẫn trên đường nét cũ nhưng chúng tôi sẽ tập trung đi sâu vào diễn xuất của diễn viên hơn.
– Có người nói rằng, Hà Nội đã dành nguồn kinh phí quá lớn cho Nhà hát Chèo Hà Nội chỉ để dựng lại những vở diễn đã có là việc làm có phần… lãng phí. Thậm chí họ còn nghi ngờ cách thực thi dự án sẽ được thực hiện với mục đích chính là để… “giải ngân”. Xin bà cho biết ý kiến về vấn đề này?
+ Nhà hát chúng tôi đã có những cuộc họp quán triệt tinh thần từ lãnh đạo đến cán bộ, diễn viên. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức, sẽ làm đến tận cùng khả năng của mình chứ không thể làm qua loa, đại khái được đâu. Mỗi vở diễn hay những phần công việc bảo tồn cụ thể đều phải làm dự toán, sau đó qua các cấp duyệt rồi mới lấy được tiền về để chi chứ có phải thành phố đưa cho chúng tôi cả một cục 9 tỉ rồi làm gì thì làm đâu. Với lại, chúng tôi có lòng tự trọng của người nghệ sĩ. Hơn nữa, chúng tôi còn phải bảo vệ tên tuổi của một Nhà hát có bề dày truyền thống 40 năm chứ. Việc có những nghi ngờ, những câu hỏi đặt ra là không thể tránh khỏi, nhưng tôi mong rằng những việc làm cụ thể của chúng tôi sẽ thuyết phục được khán giả.
– Đề án mang tên “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội” trong khi Hà Nội xưa nay vẫn không được coi là “cái nôi” của nghệ thuật chèo, không phải là chiếu chèo “gốc”. Vậy giá trị chèo truyền thống Hà Nội đang bảo tồn và phát huy có gì khác với giá trị chèo truyền thống của Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình… không, thưa bà?
+ Thực ra xưa nay nhiều đoàn chèo nhận mình là “gốc”. Nam Định, Thái Bình, Hà Tây… đều nhận vinh dự về mình. Dù không được xem là nơi khởi phát, song đoàn chèo Hà Nội là nơi tụ hợp những người con ưu tú từ các miền quê “gốc” lại mà thành. Bởi vậy, xem đoàn chèo Hà Nội biểu diễn, khán giả vẫn nhận ra ở chúng tôi một phong cách khác, trong cái chung có những nét rất riêng. Vẫn là cách diễn, lối diễn, động tác theo làn điệu của chèo truyền thống nhưng ở đoàn chúng tôi có nét sang trọng, lộng lẫy trong cái quê mùa đã thực sự khiến khán giả phải chăm chú. Chúng tôi từng mang “Quan âm thị Kính” đi diễn ở Thái Bình – nơi đoàn chèo Thái Bình từng nổi đình nổi đám với vở này, nhưng phong cách độc đáo của chèo Hà Nội vẫn khiến khán giả ở đây “say” nghiêng ngả.
– Một vấn đề được nhiều người quan tâm, đó là việc đào tạo đội ngũ kế cận cho các bộ môn nghệ thuật chèo truyền thống đang rơi vào bế tắc vì không tìm được người theo học, và nếu có học cũng không tâm huyết. Vậy vấn đề đào tạo mà đề án đặt ra sẽ được Nhà hát giải quyết thế nào?
+ Đúng là ở Hà Nội thì không có ai theo học chèo nữa rồi, bởi kiếm sống bằng nghệ thuật chèo bây giờ quả là khó khăn. Chính vì thế, vấn đề đào tạo diễn viên, học viên càng trở nên cấp thiết. Chúng tôi sẽ áp dụng một biện pháp “cổ điển”, đấy là về các địa phương để tuyển những em có năng khiếu rồi mở một lớp đào tạo riêng, mời các thầy cô chuyên gia về từng lĩnh vực đến giảng dạy. Sau đó những em thực sự có khả năng có thể được giữ lại làm việc ở Nhà hát theo kiểu vừa học vừa làm. Đây cũng là cách Nhà hát Chèo Việt Nam đã làm trong thời gian vừa qua.
– Tỉnh Hà Tây vừa hợp nhất với Hà Nội và Hà Tây cũng có một đoàn chèo được nhiều khán giả nhớ tên. Trong thời gian tới, họ có tham gia cùng thực hiện đề án không?
+ Việc sáp nhập hai đoàn chèo với nhau vẫn chưa có gì cụ thể, việc này cũng cần có thời gian để ổn định, sắp xếp, làm quen… Tôi chỉ có thể nói rằng nhân tố chủ yếu thực hiện đề án sẽ vẫn là Nhà hát Chèo Hà Nội cũ, sau đó chắc chắn sẽ có sự phối hợp để thực hiện đề án này một cách tốt nhất.
– Xin cảm ơn NSƯT Mai Hương!