Nhà hát Chèo Ninh Bình, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển (1959-2009), với nỗ lực không ngừng và tinh thần đoàn kết, học hỏi, đổi mới, sáng tạo, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đúng hướng.

Cán bộ, diễn viên Nhà hát chèo Ninh Bình sau buổi biểu diễn tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc năm 2009.

Trong một buổi tập. Ảnh: Phạm Trường.
Năm 1959, Đoàn văn công Sông Vân được thành lập với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân, các lực lượng vũ trang trong tỉnh. Với lực lượng nòng cốt ban đầu là những cán bộ làm công tác thông tin địch vận, có chút năng khiếu được “trưng dụng” từ các đơn vị trong tỉnh, các tác phẩm của Đoàn phần lớn là những hoạt cảnh có nội dung tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… bước đầu đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân, đồng thời góp phần động viên, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu.

Ngay từ những năm đầu thành lập, Đoàn đã dàn dựng những vở diễn có nội dung gắn liền với lịch sử, truyền thống của quê hương, được nhân dân đón nhận và gây ấn tượng tốt như: Nàng tiên bên núi Thúy, Lá cờ năm xưa, Vườn cam, Trần Quốc Toản, Thái hậu Dương Vân Nga… Lớp các nghệ sỹ đầu tiên của Đoàn văn công Sông Vân được khán giả nhớ và biết đến qua các vai diễn tiêu biểu như: Nghệ sỹ Xuân Cưu, Kim Liên, Hồng Nhạn, Đăng Thanh, Thúy Mùi, Lâm Bình, Xuân Chính… Đây cũng là thế hệ nghệ sỹ đã có những đóng góp tích cực trong việc tham gia biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sỹ tại các trận địa ở trong tỉnh và tận chiến trường miền Nam.

Với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom”, các nghệ sỹ Đoàn văn công Sông Vân đã góp phần động viên tinh thần chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược của quân và dân địa phương. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn văn công Sông Vân có sự thay đổi về tên gọi để phù hợp với tình hình như: Đoàn chèo Sông Vân, Đoàn chèo Ninh Bình, Đoàn văn công Ninh Bình… Những đóng góp của Đoàn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước rất đáng trân trọng.

Từ năm 1964, với phương châm tự huấn luyện, tự đào tạo, Đoàn đã có sự phát triển cả về quy mô, số lượng, dần tiến tới một đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Để góp phần động viên, cổ vũ nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, các diễn viên của Đoàn đã chia thành các tốp nhỏ đến các trận địa, đơn vị đóng quân của bộ đội để phục vụ. Đoàn còn vào các chiến trường Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, sang Lào… để phục vụ bộ đội và đồng bào… Đất nước thống nhất, hoạt động biểu diễn của Đoàn tiếp tục làm tròn trách nhiệm tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, xây dựng và kiến thiết quê hương, đất nước, khôi phục và phát triển kinh tế.
Từ năm 1982 đến 1991, Đoàn chèo Ninh Bình sáp nhập với Đoàn chèo Nam Định để thành lập Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Cùng chung suy nghĩ, trách nhiệm và sự tâm huyết với nghề, các nghệ sỹ, diễn viên của Đoàn đã đoàn kết, nhất trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thời kỳ này, Đoàn chèo Hà Nam Ninh đã gây được tiếng vang tại các hội diễn toàn quốc qua các vở diễn. Trong thành tích chung của Đoàn, có sự đóng góp tích cực của các nghệ sỹ, diễn viên Ninh Bình. Tiêu biểu năm 1985, vở diễn “Những người nói thật” của tác giả An Viết Đàm, nghệ sỹ Kim Khuyên đạt huy chương vàng, Lâm Bình đạt huy chương bạc…

Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập, đã mở ra cho Đoàn nhiều thuận lợi và điều kiện để phát triển. 24 cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên khi ấy thuộc các lĩnh vực: chèo, ca múa nhạc, cải lương, kịch nói của Đoàn Hà Nam Ninh, là con em quê hương Ninh Bình đã trở về quê hương để góp sức gây dựng nghệ thuật chèo nói riêng, hoạt động của Đoàn nói chung. Được sự quan tâm, động viên sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Đoàn được đầu tư kinh phí, mua sắm phương tiện, thiết bị, trang phục, nhạc cụ… phục vụ hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Vở diễn đầu tiên sau 17 năm chia tách được Đoàn dàn dựng thành công là vở chèo “Tấm áo bào Hoàng đế”. Đây là vở diễn phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vì đã truyền tải đến người xem giá trị và ý nghĩa lịch sử, truyền thống của quê hương thông qua tác phẩm sân khấu. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã triển khai thực hiện biểu diễn ở cả 2 loại hình là nghệ thuật chèo và biểu diễn ca múa nhạc. Trung bình mỗi năm, Đoàn đã biểu diễn trên 120 buổi phục vụ khoảng 180.000 lượt khán giả. Đoàn thường tổ chức về các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, ven biển để phục vụ nhân dân các vùng khó khăn, ít có điều kiện tiếp cận, thưởng thức các loại hình nghệ thuật.

Nhìn lại quá trình từ năm 1992 đến nay, không phụ sự tin tưởng, kỳ vọng và sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Đoàn đã đầu tư, chuẩn bị chu đáo để có nhiều vở diễn chất lượng cao tham dự các hội thi, hội diễn sân khấu toàn quốc. Những vở chèo như: Nước mắt vua Đinh, Kim Nham, Trương Hán Siêu… là những vở diễn không chỉ khẳng định hướng đi đúng của Đoàn trong việc khôi phục và gìn giữ vốn chèo cổ, mà còn là những vở chèo mang lại thành công cho các nghệ sỹ của Đoàn vì đã xuất sắc giành được các huy chương vàng tại các hội thi, hội diễn như: Nghệ sỹ Lâm Bình, Lý Thanh Kha, Xuân Nghị, Quang Thập, Minh Huệ, Mai Thủy… Mới đây, tại Hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), Nhà hát chèo Ninh Bình đã tham gia vở chèo “Linh khí Hoa Lư” và giành được 1 huy chương vàng cho vở diễn xuất sắc, 6 huy chương vàng, huy chương bạc cho cá nhân các nghệ sỹ.

Kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ nghệ sỹ đi trước, tập thể cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công, công nhân viên Nhà hát chèo Ninh Bình quyết tâm xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, mạnh dạn có những giải pháp nhằm đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhiều năm liền, Nhà hát được Bộ Văn hóa – Thông tin, UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc, bằng khen vì những thành tích đạt được. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Nhà hát vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, có những bước đi vững chắc, khẳng định vị trí của một đơn vị nghệ thuật đối với sự phát triển, đi lên của tỉnh, Nhà hát chèo Ninh Bình đã có nhiều đóng góp cho nền nghệ thuật tỉnh nhà, để lại trong lòng công chúng yêu nghệ thuật sân khấu Ninh Bình những dấu ấn và tình cảm hết sức trân trọng và đáng quý. Đây sẽ là hành trang, là động lực để tập thể cán bộ, nghệ sỹ, nhạc công, công nhân viên chức Nhà hát chèo Ninh Bình tiếp tục cống hiến, nỗ lực luyện tập để góp thêm cho đời những nốt nhạc vui, những bông hoa nghệ thuật rực rỡ.

Nguyễn Quang Thập
(Giám đốc Nhà hát chèo Ninh Bình)

Nhà hát Chèo Thái Bình kỷ niệm 50 năm xây dựng, trưởng thành và đón Huân chương Độc lập

Ngày 29-12-2009 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh đã long trọng diễn ra Lễ kỷ niệm 50 năm Nhà hát Chèo Thái Bình (1959 – 2009) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Đến dự có các đồng chí Cao Thị Hải – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Cục Nghệ thuật và Biểu diễn, Cục Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; lãnh đạo các sở, ban ngành, các đoàn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh; các thế hệ đạo diễn, diễn viên, nhạc công Nhà hát chèo các thời kỳ.
Nhà hát Chèo được thành lập từ ngày 01-8-1959 với tên gọi ban đầu là Đội văn công Thái Bình, trải qua các thời kỳ với các tên gọi khác nhau, đến 2004 mang tên Nhà hát Chèo Thái Bình. Từ 25 người ban đầu đến nay Nhà hát Chèo có 62 nghệ sỹ, diễn viên, nhạc công trong đó có 10 nghệ sỹ ưu tú; 26 hội viên hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. 50 năm với bao thăng trầm khó khăn, thử thách, Nhà hát đã dàn dựng gần 80 vở chèo, nhiều hoạt cảnh, ca khúc gồm các thể loại như lịch sử, dã sử, thần thoại, dân gian, truyền thống, hiện đại. Không những thế, tiếng hát chèo của Nhà hát Chèo Thái Bình còn vượt ngàn trùng khơi đến với bạn bè châu Âu, châu Á, châu Mỹ, trở thành sứ giả, hiện diện của một miền quê lúa nước vùng châu thổ sông Hồng, để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn bè quốc tế. Với những thành tích trong lao động sáng tạo nghệ thuật, Nhà hát Chèo Thái Bình đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại qua các kỳ hội diễn, nhiều Bằng khen của Chính phủ, của Bộ VHTT và DL cho tập thể và cá nhân các nghệ sĩ.
Một lần nữa ghi nhận thành tích của Nhà hát Chèo Thái Bình, Chủ tịch nước đã quyết định tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong không khí trang nghiêm, đồng chí Cao Thị Hải thừa ủy quyền của Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Nhà hát Chèo Thái Bình.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận, biểu dương thành tích các thế hệ đạo diễn, diễn viên nhạc công Nhà hát Chèo đạt được thời gian qua, đồng thời giao một số nhiệm vụ Nhà hát cần thực hiện trong thời gian tới, nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng Nhà hát ngày càng trưởng thành vững mạnh, tiếp tục góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tin, ảnh: Hà Dung

55 năm “chiếng chèo bộ đội”

ND – Nghệ thuật chèo truyền thống của nước ta chủ yếu là tứ chiếng chèo nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ: Chiếng Bắc, chiếng Nam, chiếng Ðông và chiếng Ðoài. Kể từ ngày 1-10-1954, với sự ra đời của Ðoàn văn công Tổng cục cung cấp, sau này đổi tên thành Ðoàn văn công Tổng cục Hậu cần (TCHC) và hiện nay là Ðoàn nghệ thuật TCHC, ngành chèo Việt Nam có thêm một người anh em đồng nghiệp.

Các nghệ sĩ Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần biểu diễn tại Trường Sa.
Gọi như thế bởi ngay từ buổi đầu thành lập, hạt nhân chủ yếu của Ðoàn văn công Tổng cục cung cấp là những nghệ sĩ chèo từ các địa phương và đơn vị hội tụ về, góp tài năng và công sức làm nên nhiều tác phẩm chèo nổi tiếng đi cùng năm tháng. Ðó cũng là lý do vì sao hàng chục năm nay, Ðoàn nghệ thuật TCHC vẫn được công chúng gọi là Ðoàn chèo TCHC.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lính chèo có mặt hầu khắp các binh trạm Trường Sơn, có thời gian đoàn phải chia thành nhiều mũi phục vụ bộ đội, TNXP, dân công hỏa tuyến… trên nhiều chiến trường, nhiều hướng chiến dịch. Những làn điệu chèo mượt mà, những trích đoạn chèo truyền thống, những hoạt cảnh chèo mới tươi vui… của Ðoàn được biểu diễn trực tiếp trên mặt trận và được phát trên sóng Ðài Tiếng nói Việt Nam đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi của quân và dân cả nước. Nhiều thế hệ khán giả hôm nay vẫn nhớ mãi những buổi diễn Trần Quốc Toản ra quân, Nguyễn Viết Xuân, Ðường về trận địa, Lá thư tiền tuyến, Chuyến đò sông Mã, Anh lái xe và cô chống lầy… của Ðoàn văn công TCHC ngày ấy…

Thời kỳ đất nước đổi mới, trong lúc nhiều đơn vị nghệ thuật dân tộc đứng trước sự lựa chọn tồn tại hay không tồn tại và xuất hiện xu hướng thương mại hóa nghệ thuật truyền thống, thì Văn công TCHC vẫn đứng vững trong cơ chế thị trường và kiên định con đường kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, với hàng loạt vở diễn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; ca ngợi tinh thần yêu nước, thương dân, trọng nghĩa tình, phê phán những thói hư tật xấu… Ðặc biệt, bộ ba tác phẩm chèo Bài ca giữ nước của Ðoàn văn công TCHC trở thành một hiện tượng của sân khấu nước nhà những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Nhiều cuộc hội thảo khoa học về bộ tác phẩm này đã được tổ chức và khẳng định: Bài ca giữ nước là mẫu mực của phương hướng cách tân, đổi mới chèo truyền thống, là bộ tác phẩm kinh điển của sân khấu chèo đương đại.

Những năm gần đây, trong môi trường hội nhập và bùng nổ các loại hình giải trí đa phương tiện, ngành sân khấu nói chung và sân khấu truyền thống nói riêng gặp muôn vàn khó khăn. Ngoài ra, Ðoàn nghệ thuật TCHC còn đứng trước nhiều khó khăn về quân số, trang bị, kinh phí, địa bàn hoạt động… Tuy vậy, Ðoàn vẫn tiếp tục phát huy tốt truyền thống của một đơn vị nghệ thuật hàng đầu, luôn coi trọng việc giữ gìn và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, tổ chức dàn dựng được nhiều tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật cao phục vụ bộ đội và nhân dân trong cả nước. 5 năm gần đây, đoàn đã làm sống lại nhiều trích đoạn chèo cổ mẫu mực, như: Lý trưởng, mẹ mõ, Thị Mầu lên chùa, Súy Vân giả dại, Phù thủy sợ ma, Tuần Ty đào Huế… Nhiều tác phẩm vang bóng một thời của đoàn cũng được tái dựng thành công, như: Anh lái xe và cô chống lầy, Ðôi mắt, Người năm ấy… Ðặc biệt, chấp hành chỉ thị của Bộ Quốc phòng, năm 2007 Ðoàn đã tái dựng xuất sắc bộ tác phẩm Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ðồng thời, Ðoàn đã tích cực cộng tác với các tác giả kịch bản và đạo diễn trong và ngoài quân đội; tổ chức tọa đàm, đi thực tế, đặt hàng, thẩm định… để xây dựng nhiều vở diễn mới được dư luận đánh giá cao, như: Dòng chảy thần kỳ, Ánh sao đầu núi, Vụ án sau 20 năm, Ðã một lần, Chuyện người xưa, Trạng Quỳnh, Ðêm trắng… Trong đó, vở Ðêm trắng sau hơn một trăm đêm biểu diễn phục vụ quân dân tại các đơn vị và địa phương được dư luận đánh giá rất cao, đã giành thắng lợi giòn giã tại Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm 2008, với một loạt giải thưởng: Huy chương vàng cho vở diễn; Bằng khen của Tổng cục chính trị và Giải thưởng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dành cho tác phẩm xuất sắc về đề tài Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ba Huy chương vàng và năm Huy chương bạc cho tám diễn viên thể hiện thành công các vai diễn; hai giải thưởng xuất sắc của Hội nghệ sĩ sân khấu dành cho NSƯT Ðào Lê chỉ đạo nghệ thuật vở diễn và nghệ sĩ trẻ Ngọc Cao thể hiện hình tượng Bác Hồ kính yêu…

Còn nhớ vào năm 2004, khi Ðài Truyền hình Việt Nam (VTV) mở chuyên mục Sân khấu truyền hình, Ðoàn nghệ thuật TCHC đã được mời diễn ra mắt chuyên mục này với vở Ðiều đọng lại sau chiến tranh. Từ đó đến nay, Ðoàn đã năm lần được mời lên “Sân khấu truyền hình” với những tác phẩm mới dàn đựng được dư luận mến mộ. Ngoài ra, hằng năm Ðoàn đều tổ chức từ một đến hai đợt hành quân dã ngoại biểu diễn phục vụ khán giả quân dân Trường Sa, Tây Bắc, Việt Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Nam Bộ… và nước bạn Lào. Ở đâu, lính chèo cũng đều được chiến sĩ và đồng bào các dân tộc vô cùng mến mộ, khẳng định uy tín của thương hiệu “Chiếng chèo bộ đội” trong tình cảm của khán giả quân-dân cả nước.

Tiếp sau những tên tuổi như: Tào Mạt, Nguyễn Thành, Nguyễn Thế Phiệt, Xuân Theo, Ngọc Viễn… thế hệ hiện nay của Ðoàn như: Ðào Lê, Thanh Hải, Quốc Trượng, Trung Sinh, Minh Tiến, Phương Thúy, Tự Long, Hiền Lương, Kim Liên, Thùy Linh, v.v. đang tiếp nối xứng đáng truyền thống của thế hệ cha anh. “Chiếng chèo bộ đội” có nhiều tên tuổi thuộc hàng ngôi sao, trong đó có 13 NSƯT. Ðặc biệt, bên cạnh nhiều huân chương cao quý được tặng thưởng qua các thời kỳ, Ðoàn đã được Nhà nước tuyên dương Ðơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập, Ðoàn vinh dự được thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Các thế hệ nghệ sĩ Ðoàn nghệ thuật TCHC luôn luôn khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu ngày 28-3-1967, khi Ðoàn được vinh dự vào Phủ Chủ tịch biểu diễn cho Bác xem.

Chiếu chèo Hà Nam trong hành trình đổi mới

Phòng khán giả buổi dự thi thứ 18/19 của Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tháng 12/2009 tại Cung Văn hóa Việt Nhật (thành phố Hạ Long) như bừng lên, tiếng vỗ tay tưởng chừng như không muốn dứt. Theo cách nói chuyên môn thì các nghệ sĩ đã có một buổi biểu diễn “xuất thần” vở Đợi đến mùa xuân (tác giả cố nhà văn Xuân Trình, chuyển thể Trần Đình Văn, đạo diễn Vũ Ngọc Minh) trước bạn bè đồng nghiệp và khán giả Quảng Ninh…

Lời ca cất lên sao ngọt ngào da diết:
Chỉ tâm nguyện một đời vì những em thơ
Mà phải chịu trăm ngàn cay đắng
Nuốt dòng lệ trong tim thầm lặng
Tôi phải một mình vượt những chông gai…
(hát sử rầu)
Cả một rừng hoa tươi thắm đã giành cho những nghệ sĩ chèo Hà Nam…
Đồng nghiệp cảm động trước sự trưởng thành nhanh chóng về nghề nghiệp của một đoàn nghệ thuật. Còn những nghệ sĩ, diễn viên Hà Nam nước mắt như chực trào ra vì những thành quả, những cố gắng âm thầm của mình cuối cùng cũng đã được bạn bè đồng nghiệp biết đến… mới biết người nghệ sĩ cần sự tri âm da diết thế nào…

Cách Hà Nội hơn 50km, là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, phía Đông giáp Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình, tỉnh Hà Nam theo cách nói của cố giáo sư Trần Quốc Vượng là một địa phương nằm trong vùng “ tứ giác nước” đồng bằng châu thổ sông Hồng – một trong những cái nôi lớn nhất của nghệ thuật chèo cả nước.
Tiền thân của đoàn là Đoàn chèo Hà Nam được thành lập từ 1958. Mười năm sau, 1968 được sát nhập với Đoàn chèo Nam Định thành Đoàn chèo Nam Hà, rồi Đoàn chèo Hà Nam Ninh. Những thành tựu huy hoàng của đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận xứng đáng bằng các tấm Huân chương, Huy chương…
Tuy nhiên, hành trình đổi mới của Đoàn chèo Hà Nam được đánh dấu bằng sự kiện tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam (tháng 1 năm 1997). Ba tháng sau, tức tháng 4 năm 1997, Đoàn chèo Hà Nam có quyết định tái thành lập, với chức năng và nhiêm vụ hoạt động trên lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, xây dựng các chương trình, tiết mục nghệ thuật sân khấu đậm đà bản sắc dân tộc, biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân địa phương. Khai thác, phát huy nghệ thuật chèo truyền thống và các làn điệu dân ca của tỉnh…
Khi dó toàn đoàn chỉ có vẻn vẹn mười hai con người (cả nghệ sĩ, diễn viên nhạc công, hậu đài, bảo vệ)… trên đủ các lĩnh vực cải lương, ca múa, kịch nói, chèo, được tập hợp dưới sự chỉ đạo của NSUT Lương Duyên và với một cơ sở vật chất quá nghèo nàn… Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng ngay từ đầu, ban lãnh đạo đoàn và anh em đã quyết tâm cùng nhau từng bước xây dựng đoàn. Việc đầu tiên phải nghĩ ngay đến là công tác chuyên môn. Mang danh một đoàn chèo ở một chiếng chèo Nam có tiếng từ thưở xa xưa, vậy mà nòng cốt của đoàn khi mới tái lập chỉ có ba người đã từng là diễn viên chèo: Lương Duyên, Huy Toàn, Tuyết Lan. Các diễn viên khác chỉ hoặc là biết diễn kịch, hoặc là hát mới, hoặc là biết ca cải lương và chưa từng biết hát chèo, diễn chèo. Lớp “tập huấn” hát chèo, múa chèo, diễn chèo được thực hiện song song cùng với việc xây dựng các tiết mục biểu diễn , mà “thầy cô” thị phạm chính là ba nghệ sĩ chèo duy nhất của đoàn; muốn mời các thầy cô trên Trung ương về lắm, nhưng đoàn không có kinh phi chi trả nên không dám “mở lời”. Cả người học lẫn người dạy cứ âm thầm miệt mài như thế…
Nhưng cái khó bó cái khôn, rồi những diễn viên biết nghề chút ít lại không cánh mà bay: sau 5 năm, nghệ sĩ Huy Toàn lên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh làm giảng viên, một số diễn viên trẻ “bay mất”sang đoàn chèo Tổng cục Hậu Cần và đoàn chèo Ninh Bình. Họ đi tuy lòng nặng trĩu nghĩa tình, nhưng vì cuộc sống “rất thực” và vì những ước vọng riêng, họ vẫn cứ phải ra đi. Những người ở lại, phải gồng sức để tìm cách lấp đầy khoảng trống đó…
Chính lòng yêu nghề, sự quyết tâm vượt lên mọi gian khổ vật chất của các nghệ sĩ Hà Nam đã khiến các “thầy chèo” cảm động và họ đã tập hợp được một đội ngũ cộng tác viên sáng giá nhất của làng chèo, các tác giả: Trần Đình Ngôn, Hoài Giao, An Viết Đàm, Lương Tử Đức…; các đạo diễn: NSUT Lê Huệ, NSND Bùi Đắc Sừ, NSUT Hải Thọ, Vũ Ngọc Minh…; các nhạc sĩ: NSUT Hanh Nhân, NSUT Đăng Toàn…; và các họa sĩ: NSUT Dân Quốc, NSUT Bùi Vũ Minh, Hồng Long… Các đạo diễn, nghệ sĩ đã giúp bằng cả tài năng và tấm lòng của những tâm hồn cao khiết vì nghề chèo, vì chiếu chèo Hà Nam.
Bên cạnh nhiều chương trình nghệ thuật tổng hợp phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, ngày lễ của quê hương, đất nước; phục vụ các sở, ban ngành trong tỉnh Hà Nam, dàn kịch mục của đoàn cho đến nay đã khá phong phú, với các đề tài khác nhau.
Bên cạnh những vở diễn mang đề tài danh nhân truyền thống, lịch sử quê hương như: Bài thơ treo dải yếm đào, Tiếng trống bồ đề; Vua đi cày; Tỉnh rượu lúc tàn canh; Bùi Viên cư sĩ… còn phải kể đến các vở chèo truyền thống như: Lưu Bình Dương Lễ; Súy Vân; hoặc các vở đề tài dân gian, hiện đại: Dòng suối cội nguồn; Người nhà quê; Cõi thế đa đoan; Hoa đồng nội và Đợi đến mùa xuân… Với một phong cách biểu diễn giản dị, nhưng lãng mạn, hiện thực mà tinh tế, với những giọng hát chèo ngọt ngào, đằm thắm, vở diễn nào của đoàn cũng được khán giả chào đón nồng nhiệt. Chương trình ca hát dân gian của đoàn cũng đã được dàn dựng khá công phu do chính Trưởng đoàn chỉ đạo nghệ thuật NSUT Lương Duyên dàn dựng với các tiết mục hát dân ca thấm đẫm chất trữ tình, hát chầu văn; cả nhiều giá hát chầu-đặc sản của Hà Nam cũng đã được khai thác, đưa thành những tiết mục biểu diễn ngợi ca tình yêu, khát khao chung thủy, hướng tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống.
Gần 13 năm xây dựng và trưởng thành là cả một quá trình vượt khó đi lên của đoàn chèo Hà Nam. Và để có được những thành tích ấy, trước hết vẫn là tinh thần đoàn kết thống nhất của toàn thể anh chị em nghệ sĩ, nhạc công và cán bộ công nhân viên của đoàn. Ngoài những nghệ sĩ “nòng cốt” của đoàn như :Tuyết Lan, Mạnh Hùng, Trang Nhung, Việt Dũng… không thể không nói đến vai trò lãnh đạo của NSUT Lương Duyên, chị có thể vừa chỉ đạo nghệ thuật, vừa dàn dựng chương trình ca hát, lại vừa là diễn viên hát chính, diễn viên đóng vai chính, rồi cũng chính chị là người đi kí hợp đồng bán vé… không nề hà bất cứ một công việc gì, miễn là có ich lợi cho nghệ thuật, cho đoàn chèo mà chị luôn coi là ngôi nhà thứ 2 của chính mình. Ấy vậy mà ở tuổi ngoài 50 nom Lương Duyên vẫn rất trẻ, trên sân khấu vẫn thấy một Lương Duyên xinh đẹp, đầy lửa với một giọng hát chèo vàng. Chị được bạn nghề ví như một “mụ phù thủy đáng yêu”.
Những năm gần đây, được sự quan tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Hà Nam, đoàn đã có một trụ sở làm việc khá khang trang gồm 2 tầng, tầng 1 là trụ sở làm việc, tầng 2 là sàn tập của diễn viên, nhạc công đồng thời cũng là nơi biểu diễn chiếu chèo Hà Nam.
Dù cho đến hôm nay, đội ngũ của đoàn cũng mới chỉ có 27 biên chế, 7 hợp đồng và một lớp học sinh trung cấp gồm 20 em. Dù cho kinh phí hoạt động nghệ thuật của đoàn vẫn còn quá eo hẹp, nếu không muốn nói là kém nhất so với các đoàn chèo cả nước, thì những nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn kiên định một quyết tâm ngay từ buổi tái thành lập đoàn là xây dựng một Đoàn chèo Hà Nam với một hương sắc riêng, với truyền thống và hiện đại xứng đáng với một vùng đất văn hiến có bề dày văn hoá, giầu cảnh quan trữ tình, giàu trầm tich lịch sử, quê hương của Nam Cao, của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến…
Cuộc thi tài đã khép lại, mà dư âm những lời ca của rnhững nghệ sĩ chèo Hà Nam vẫn như còn vang mãi trong trái tim khán giả:
Khi mây mờ còn che phủ trời xanh
Ta phải biết tin vào bình minh phía trước
Khi ta gieo một mầm xanh xuống đất
Có thể mùa đông giá rét, nó không sao nẩy lộc đâm chồi
Nhưng đến mùa xuân ấm áp ánh mặt trời
Mầm xanh ấy sẽ vươn mình đứng dậy…
Đợi một ngày nắng mới bừng lên…

Nhân dân cuối tuần ngày 29.1.2010

Người giữ lửa cho điệu múa chèo cổ Xa Mạc

Đi theo con đường bê tông trên khúc đê tả ngạn sông Hồng, vòng từ chân cầu Thăng Long hướng về phía Bắc, chúng tôi đến một ngôi làng cổ có cái tên nghe là lạ – Xa Mạc, thuộc xã Liên Mạc, huyện Mê Linh, Hà Nội.

Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược, người giữ lửa cho làn điệu chèo Xa Mạc. (Ảnh: Internet)

Đi theo con đường bê tông trên khúc đê tả ngạn sông Hồng, vòng từ chân cầu Thăng Long hướng về phía Bắc, chúng tôi đến một ngôi làng cổ có cái tên nghe là lạ – Xa Mạc, thuộc xã Liên Mạc, huyện Mê Linh, Hà Nội.

Ít người biết rằng ẩn trong ngôi làng cổ kính này là tiếng trống chèo với làn điệu chèo Xa Mạc có một không hai trong các làn điệu chèo Việt Nam. Và người giữ lửa cho làn điệu ấy là nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược – đội trưởng đội văn hóa thôn Xa Mạc

Ở tuổi ngoại lục tuần, ông Lược vẫn còn “duyên” với chèo cổ quê mình. Ông tâm sự: “Tôi mê hát chèo từ khi tóc còn để chỏm. Lớn lên, mỗi khi nghe tiếng trống chèo ngoài đình là trong lòng đã nhộn nhịp. Từ ngày bao cấp, tiếng hát chèo quê tôi dường như vắng lặng”.

Ông nói thêm: “Nhiều đêm tôi không ngủ được, tự ôn lại những điệu chèo của các cụ để lại mà thấy lo cho một di sản văn hóa phi vật thể của quê hương liệu có bị mai một. Rồi những ngày trong quân ngũ, nhớ quê hương, nhớ tiếng trống chèo da diết, tôi mơ ngày chiến thắng trở về sẽ lại được hát chèo”.

Không biết may cho chèo hay may cho ông Lược, khi đất nước đổi mới, cuộc sống nhân dân khá lên rất nhiều, đời sống văn hóa cũng nhờ đó mà khởi sắc. Ông Lược được bà con tín nhiệm, đứng ra gánh vác việc phục hồi làn điệu chèo chính thống của vùng quê Liên Mạc – điệu Xa Mạc.

Tiếp xúc với người đội trưởng văn hóa thôn Nguyễn Ngọc Lược và bà con thôn Xa Mạc mới thấy người dân nơi đây rất tôn vinh làn điệu chèo cổ của quê mình. Làn điệu chèo này xuất xứ từ thôn Xa Mạc bao đời nay không ai biết, song trong hàng trăm làn điệu của chèo như lới lơ, cỏ lả, trống quân… có làn điệu Xa Mạc đã và đang tồn tại cho đến nay.

Các cụ cao niên trong làng kể lại ngày xưa, người ta thường hát điệu Xa Mạc bên dòng sông, dưới cánh đồng mênh mông để gửi gắm tâm tình cho nhau. Do khoảng cách xa và tiếng hát mang đậm tính chân chất của xóm làng nên được gọi bằng cái tên Xa Mạc (mạc là làng).

Từ cụ già ngoài 80 tuổi đến trẻ lên năm, lên sáu ở thôn đều thuộc làu làu những câu ca dao, thơ lục bát cổ, câu hát đồng dao… được chuyển thành làn điệu Xa Mạc.

Bà con cho biết, thôn đã thành lập được Câu lạc bộ hát chèo truyền thống của Xa Mạc mà chủ nhân chính là nghệ nhân Nguyễn Ngọc Lược. Năm 1998, ông tự bỏ ra gần 20 triệu đồng để mua sắm hệ thống âm thanh, ánh sáng, đạo cụ, thành lập đội hát chèo gồm 20 người. “Tôi mê nó quá, tôi phải làm gì để phục dựng chiếu chèo của quê hương, chứ đâu có thích gì lấy được lời khen”, ông Lược tâm sự.

Đã gần 30 năm nay, ông chưa lúc nào nguôi đi niềm đam mê chèo. Đối với ông, không hát chèo, không sáng tác chèo thì không thể chịu được. Nhớ ngày khởi nghiệp, ông bị nhiều người cho là “hâm” nhưng bỏ mặc ngoài tai, ông vẫn đằng đẵng sưu tầm, kiên trì nghiên cứu, sáng tác. Đến nay, ông đã có trong tay hơn 30 bài hát theo làn điệu chèo Xa Mạc cổ truyền từ thế kỷ thứ 19.

Ông còn viết hàng trăm bài hát chèo, dựng hàng chục trường đoạn, ca cảnh tạo nên vở diễn. Ông còn nhận truyền dạy hát chèo cho hàng chục con cháu. Ai chứng kiến cảnh các cháu tuổi mười tám, đôi mươi theo học hát chèo, thấy lớp học đông vui, chiếu chèo rộn rã đều cảm nhận một làng quê yên bình mà thanh nhã. Các cụ cao tuổi phấn khởi lắm, mọi người đều động viên con cháu đi tập chèo.

Bằng sự đam mê và tinh thần trách nhiệm với mong muốn giữ lấy làn điệu chèo độc nhất vô nhị của làng, ông Lược luôn được bà con tôn vinh và trân trọng.

Đau đáu nỗi lo làm sao để các thế hệ mai sau giữ mãi được niềm say mê điệu chèo quê hương, ông Lược trăn trở: “Cần phải có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa của các cấp chính quyền và cơ quan văn hóa để phát triển và lưu giữ làn điệu chèo Xa Mạc – một làn điệu chèo rất dễ hát và dễ nhớ với những câu, từ dân dã, gần gũi với cuộc sống thường ngày của người dân lao động các vùng quê Bắc bộ./.

Nhà hát chèo Hà Nội: Gánh nặng 9 tỷ đồng?

Vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt và giao cho Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội” với kinh phí 9 tỉ đồng, thời gian thực hiện từ nay đến năm 2015. Đây là nguồn kinh phí đáng mơ ước của mọi Nhà hát, nhất là các đơn vị biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong bối cảnh khó khăn chung của sân khấu nước nhà hiện nay.

Câu hỏi đặt ra là, Nhà hát Chèo Hà Nội sẽ thực hiện đề án này bằng những việc làm cụ thể như thế nào? Phóng viên VNCA đã có cuộc trò chuyện với NSƯT Trần Thị Mai Hương – Phó Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội xung quanh việc này.

Cảnh trong vở “Quan âm Thị Kính” do Nhà hát chèo Hà Nội dàn dựng.

Thưa NSƯT Trần Thị Mai Hương, bà nghe được những phản hồi như thế nào từ phía bạn bè, đồng nghiệp và tâm trạng của tập thể cán bộ diễn viên Nhà hát Chèo Hà Nội khi được tin đề án này được phê duyệt?
+ Nói chung, bạn bè đồng nghiệp đều mừng cho Nhà hát Chèo Hà Nội thôi. Họ nói rằng Chèo Hà Nội được quan tâm và vì thế có cơ hội thể hiện mình. Còn anh em trong đoàn thì phấn khởi lắm, vì đây là đề án chúng tôi đã ấp ủ từ lâu. Đề án này sẽ cho Nhà hát Chèo Hà Nội phục dựng những vở diễn đã làm nên tên tuổi của mình một thời, ngoài ra còn có các công việc như bảo tồn và lưu giữ các làn điệu chèo, các loại nhạc cụ dùng trong chèo, các loại phục trang, cách bài trí sân khấu… Chúng tôi hiểu rằng, mỗi thế hệ diễn viên qua đi, nghệ thuật chèo lại có những mất mát, rơi rụng. Cho nên, việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội là việc làm cần thiết trong các hoạt động văn hóa hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Mừng đấy, nhưng cũng rất lo. Hàng đống việc phải làm. Đấy là cả một “gánh nặng” đòi hỏi sự cố gắng của cả tập thể nhà hát. Ngoài việc đảm nhận thực hiện đề án này, chúng tôi vẫn phải dựng 2 vở mới/ mỗi năm và có những suất diễn định kỳ.
– Nhiệm vụ chủ yếu mà đề án đặt ra là bảo tồn 15 vở chèo mà Nhà hát Chèo từng dàn dựng. Có điều gì khác biệt giữa dựng vở “bảo tồn” và dựng vở theo “định kỳ” theo sự phân bổ của ngân sách không, thưa bà?
+ Thực ra chúng tôi đã bắt tay vào phục dựng các vở diễn này từ khi đề án chưa được phê duyệt cơ. Vừa qua, chúng tôi đã dựng lại “Quan âm Thị Kính” mà khán giả vừa được xem trực tiếp qua “Nhà hát truyền hình” và trích đoạn “Nàng Sita” trong đêm tưởng niệm kịch tác gia Lưu Quang Vũ ở Nhà hát Tuổi trẻ. Tất nhiên, những vở diễn nằm trong đề án được đầu tư tốt hơn nên có điều kiện làm chi tiết hơn, kỹ càng hơn trong đầu tư cho diễn viên, đạo diễn, âm thanh, ánh sáng, phục trang, sân khấu. Trong những năm tiếp theo, các vở diễn như “Lý Công Uẩn”, “Tấm Cám”, “Nàng Mai Vạn Lịch”, “Ngọc Hân công chúa”, “Lý Thường Kiệt”, “Đêm hội Long Trì”… vẫn trên đường nét cũ nhưng chúng tôi sẽ tập trung đi sâu vào diễn xuất của diễn viên hơn.
– Có người nói rằng, Hà Nội đã dành nguồn kinh phí quá lớn cho Nhà hát Chèo Hà Nội chỉ để dựng lại những vở diễn đã có là việc làm có phần… lãng phí. Thậm chí họ còn nghi ngờ cách thực thi dự án sẽ được thực hiện với mục đích chính là để… “giải ngân”. Xin bà cho biết ý kiến về vấn đề này?
+ Nhà hát chúng tôi đã có những cuộc họp quán triệt tinh thần từ lãnh đạo đến cán bộ, diễn viên. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức, sẽ làm đến tận cùng khả năng của mình chứ không thể làm qua loa, đại khái được đâu. Mỗi vở diễn hay những phần công việc bảo tồn cụ thể đều phải làm dự toán, sau đó qua các cấp duyệt rồi mới lấy được tiền về để chi chứ có phải thành phố đưa cho chúng tôi cả một cục 9 tỉ rồi làm gì thì làm đâu. Với lại, chúng tôi có lòng tự trọng của người nghệ sĩ. Hơn nữa, chúng tôi còn phải bảo vệ tên tuổi của một Nhà hát có bề dày truyền thống 40 năm chứ. Việc có những nghi ngờ, những câu hỏi đặt ra là không thể tránh khỏi, nhưng tôi mong rằng những việc làm cụ thể của chúng tôi sẽ thuyết phục được khán giả.
– Đề án mang tên “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chèo truyền thống Hà Nội” trong khi Hà Nội xưa nay vẫn không được coi là “cái nôi” của nghệ thuật chèo, không phải là chiếu chèo “gốc”. Vậy giá trị chèo truyền thống Hà Nội đang bảo tồn và phát huy có gì khác với giá trị chèo truyền thống của Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình… không, thưa bà?
+ Thực ra xưa nay nhiều đoàn chèo nhận mình là “gốc”. Nam Định, Thái Bình, Hà Tây… đều nhận vinh dự về mình. Dù không được xem là nơi khởi phát, song đoàn chèo Hà Nội là nơi tụ hợp những người con ưu tú từ các miền quê “gốc” lại mà thành. Bởi vậy, xem đoàn chèo Hà Nội biểu diễn, khán giả vẫn nhận ra ở chúng tôi một phong cách khác, trong cái chung có những nét rất riêng. Vẫn là cách diễn, lối diễn, động tác theo làn điệu của chèo truyền thống nhưng ở đoàn chúng tôi có nét sang trọng, lộng lẫy trong cái quê mùa đã thực sự khiến khán giả phải chăm chú. Chúng tôi từng mang “Quan âm thị Kính” đi diễn ở Thái Bình – nơi đoàn chèo Thái Bình từng nổi đình nổi đám với vở này, nhưng phong cách độc đáo của chèo Hà Nội vẫn khiến khán giả ở đây “say” nghiêng ngả.
– Một vấn đề được nhiều người quan tâm, đó là việc đào tạo đội ngũ kế cận cho các bộ môn nghệ thuật chèo truyền thống đang rơi vào bế tắc vì không tìm được người theo học, và nếu có học cũng không tâm huyết. Vậy vấn đề đào tạo mà đề án đặt ra sẽ được Nhà hát giải quyết thế nào?
+ Đúng là ở Hà Nội thì không có ai theo học chèo nữa rồi, bởi kiếm sống bằng nghệ thuật chèo bây giờ quả là khó khăn. Chính vì thế, vấn đề đào tạo diễn viên, học viên càng trở nên cấp thiết. Chúng tôi sẽ áp dụng một biện pháp “cổ điển”, đấy là về các địa phương để tuyển những em có năng khiếu rồi mở một lớp đào tạo riêng, mời các thầy cô chuyên gia về từng lĩnh vực đến giảng dạy. Sau đó những em thực sự có khả năng có thể được giữ lại làm việc ở Nhà hát theo kiểu vừa học vừa làm. Đây cũng là cách Nhà hát Chèo Việt Nam đã làm trong thời gian vừa qua.
– Tỉnh Hà Tây vừa hợp nhất với Hà Nội và Hà Tây cũng có một đoàn chèo được nhiều khán giả nhớ tên. Trong thời gian tới, họ có tham gia cùng thực hiện đề án không?
+ Việc sáp nhập hai đoàn chèo với nhau vẫn chưa có gì cụ thể, việc này cũng cần có thời gian để ổn định, sắp xếp, làm quen… Tôi chỉ có thể nói rằng nhân tố chủ yếu thực hiện đề án sẽ vẫn là Nhà hát Chèo Hà Nội cũ, sau đó chắc chắn sẽ có sự phối hợp để thực hiện đề án này một cách tốt nhất.
– Xin cảm ơn NSƯT Mai Hương!

45 năm Đoàn nghệ thuật Chèo Quảng Ninh (1963 – 2008)

Hôm chúng tôi đến thăm Đoàn Chèo Quảng Ninh tại trụ sở đoàn – Khu Văn công, phường Bãi Cháy (TP Hạ Long) cũng là khi các nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn đang say mê tập các tiết mục để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đoàn và đón nhận Huân chương Lao Động hạng Ba của Chủ tịch nước trao tặng, sẽ được tổ chức vào ngày 7-12-2008.

Ngay sau khi thành lập, các nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Chèo Quảng Ninh đã bắt tay vào tập vở với những vở được coi là kinh điển, mẫu mực của chèo cổ như: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên. Buổi đầu, mặc dù chất “tinh”, chuyên nghiệp còn hạn chế nhưng bù lại anh chị em diễn nhiệt tình, say mê nên đi diễn ở đâu, bà con cũng rất quý, đi xem rất đông – Nghệ sĩ Ngọc ẩn cười, nhớ lại. Trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đặc biệt là sau sự kiện 5-8-1964, Đoàn bắt đầu chuyển dựng các vở chèo, trích đoạn mang nội dung mới, phản ánh hơi thở cuộc sống, thời đại để cổ vũ tinh thần chiến đấu, lao động sản xuất của quân và dân Vùng mỏ. Cũng trong giai đoạn này, một số nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn như Ngọc ẩn, Tất Thọ, Minh Huệ… đã lên đường đi biểu diễn phục vụ bộ đội ở chiến trường phía Nam, để lại dấu ấn tốt đẹp về văn công Vùng mỏ trong lòng các chiến sĩ và đã được BTL Đoàn 559 (Đường Hồ Chí Minh) tặng bằng khen. Thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, nhiều vở chèo của Đoàn Chèo Quảng Ninh đã gây được dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả, như vở Nàng Sita, Nỗi đau lòng mẹ, Ngôi sao Hạ Long. Trong đó, vở Ngôi sao Hạ Long lấy nguyên mẫu là chị Cả Khương – một chiến sĩ cách mạng kiên trung của Đảng hoạt động tại Hòn Gai năm 1930 đã giành Huy chương Bạc tại Hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985. Thập kỷ 90 đánh dấu sự thành công của một số vở như Mẹ kế của chồng tôi, Tiếng vọng rừng xanh…

Cũng giống như các đoàn nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp khác như cải lương, kịch nói, chuyển sang thời kỳ đổi mới, Đoàn Chèo Quảng Ninh đứng trước không ít khó khăn do sự cạnh tranh của các loại hình giải trí mới và do cơ chế thị trường… Tuy nhiên, nhờ có sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, sự nỗ lực, sáng tạo của cán bộ, anh chị em nghệ sĩ, diễn viên nên Đoàn từng bước vượt qua khó khăn, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của người xem. Ngoài các buổi diễn phục vụ bà con vùng miền núi, hải đảo, các ngày lễ, tết (nhiệm vụ chính trị), Đoàn đã ký hợp đồng biểu diễn phục vụ khách du lịch tại các KS lớn như Sài Gòn – Hạ Long, Hạ Long Dream, Hạ Long Plaza, tàu du lịch Star Leo, hang Đầu Gỗ… Những năm gần đây, hầu như năm nào số buổi biểu diễn của Đoàn cũng vượt mức kế hoạch đề ra, doanh thu tăng từ 401 triệu đồng năm 2006 lên xấp xỉ 600 triệu đồng năm 2008. Thu nhập, đời sống tinh thần, vật chất ổn định nên tất cả cán bộ, nghệ sĩ diễn viên của Đoàn đều yên tâm công tác, gắn bó máu thịt với nghề. Một công việc ý nghĩa mà không phải đoàn nghệ thuật nào của tỉnh cũng làm được đó là bên cạnh biểu diễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị, những năm qua Đoàn Chèo Quảng Ninh còn góp phần xây dựng, giúp đỡ nhiều địa phương, ngành xây dựng các đội chèo, làm nền tảng cho phong trào văn hoá văn nghệ phát triển như xã Nguyễn Huệ (Đông Triều), xã Phương Nam (Uông Bí), Trung tâm VH-TT huyện Yên Hưng, xã Đồng Tiến (Cô Tô)…
Trong chặng đường phát triển của mình, Đoàn có 4 nghệ sĩ đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú là Minh Huệ (đã nghỉ hưu), Trọng Bình (Trưởng đoàn hiện nay), Thanh Chắc (Phó Trưởng đoàn), Thanh Bình (diễn viên); có 13 người được UBND tỉnh phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Vùng mỏ. Từ năm 1963 đến nay, Đoàn đã dàn dựng và biểu diễn 30 vở chèo lớn và trên 20 tiết mục ngắn; đã đoạt 3 HCV, 4 HCB và trên 40 lượt cá nhân được tặng HCV, HCB trong các kỳ hội diễn nghệ thuật chèo toàn quốc. Đoàn đã được Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư lệnh Đoàn 559, Bộ VH-TT và UBND tỉnh tặng thưởng huân chương, cờ thi đua xuất sắc và nhiều bằng khen. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập (1963-2008), Đoàn đã vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao Động hạng Ba; cá nhân Trưởng Đoàn Chèo, NSƯT Trọng Bình được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

45 xây dựng và trưởng thành, lớp nghệ sĩ, diễn viên trẻ ngày nào như Thanh Chắc, Trọng Bình, Huy Mạch giờ đang là trụ cột của Đoàn, trở thành điểm tựa cho một thế hệ kế tiếp là Hoàng Diễn, Hồng Vân đã và đang nỗ lực khẳng định mình. Hy vọng, những kết quả đã đạt được sẽ là nền tảng, cơ sở để Đoàn Chèo Quảng Ninh phát triển hơn nữa.
Báo Quảng Ninh điện tử

Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2009

Tháng 12/2009, Hội diễn Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc đã diễn ra thành công tốt đẹp tại thành phố Hạ Long, với kết quả 02 vở diễn được trao huy chương vàng và 05 vở được trao huy chương bạc.

Sau đây là thông tin cụ thể về tiết mục tham dự Hội diễn của các đoàn Chèo:

1. Nhà hát Chèo Nam Định : Vở “Cuộc chiến không tiếng súng” (Huy chương vàng).
2. Nhà hát Chèo Ninh Bình : vở “Hào khí Hoa Lư” (Huy chương vàng).
3. Nhà hát Chèo Việt Nam : Vở “Mảnh gương nhân sự” (Huy chương bạc) và vở “Bà huyện trong mơ”.
4. Nhà hát Chèo Hà Nội : Vở “Ngọc Hân công chúa” (Huy chương bạc) và vở “Oan khuất một thời” .
5. Đoàn Chèo Tổng cục hậu cần QDNDVN : vở “Hùng khí Bạch Đằng Giang” (Huy chương bạc).
6. Đoàn Chèo Bắc Giang : vở “Danh chiếm bảng vàng” (Huy chương bạc).
7. Nhà hát Chèo Thái Bình : vở “Nữ tướng Bát Nàn” (Huy chương bạc).
8. Nhà hát Chèo Hưng Yên : Vở “Tống Trân – Cúc Hoa”.
9. Đoàn Chèo Thanh Hoá : Vở “Đào Duy Từ”.
10. Đoàn Chèo Hải Phòng : Vở “ Vùng sáng Dương Kinh”.
11. Đoàn NT Thái Nguyên : Vở “Cờ thiêng trên núi Võ”.
12. Đoàn Chèo Hà Nam : Vở “Đợi đến mùa xuân”.
13. Đoàn Chèo Vĩnh Phúc : Vở “Trang chủ Sơn Đông”
14. Đoàn NT Yên Bái : Vở “Đoàn ngự sử ở Lục Yên Châu”.
15. Đoàn Chèo Quảng Ninh : vở “Tâm đức Phật Hoàng”.
16. Đoàn Chèo Phú Thọ : vở “Mái ấm tình quê”.

Nhà hát Chèo Hà Nội – Kể lịch sử qua tên người nghệ sĩ

Xuân này, Nhà hát Chèo Hà Nội tròn 60 tuổi – đã có thể coi là một chặng trong lịch sử hình thành và phát triển ngót nghìn năm của môn nghệ thuật sân khấu mang hồn Việt này. Nhưng đó cũng có thể coi là chặng đường xuân nhất của sân khấu Chèo: đẹp đẽ, rực rỡ nhưng cũng đầy thách thức – như chặng đường đời mà ta qua ở quãng tuổi 20.

Lịch sử qua gương mặt đào, kép

Nhà nghiên cứu Chèo – GS Hà Văn Cầu đã từng nhận xét: “Trong thời gian rất dài, Chèo giữ vai trò của cuốn sách giáo khoa, góp phần vào việc giáo dưỡng chẳng những về lời ăn tiếng nói mà còn cả cách ứng xử phải phép cho các thành viên công xã, đối với họ hàng, với các thành viên khác trong công xã và với đất nước”. Chèo là một nghệ thuật thuần Việt, thể hiện tình cảm, tâm hồn, đạo đức thẩm mỹ của người nông dân Việt Nam.

Nhà hát Chèo Hà Nội, tiền thân từ đoàn Lạc Việt (sau đổi thành Kim Lan), hình thành khi Chèo đã là một môn nghệ thuật chuyên nghiệp, đã chịu ảnh hưởng của Kịch nói phương Tây, diễn trong rạp, bán vé cho người xem. Từ đó cho đến ngày nay, chèo Hà Nội vẫn nổi danh là nơi quy tụ những tinh hoa của chiếng chèo đất Bắc. NSƯT Thuý Mùi, GĐ Nhà hát Chèo Hà Nội cho tôi xem những bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 50-60 của thế kỷ trước – thứ di sản mà chị và lớp lớp nghệ sĩ đi trước của Nhà hát đều coi như báu vật, minh chứng cho một thời kỳ vàng son của sân khấu chèo. Quả thực, không gì có thể kể về một nhà hát nhiều hơn những vở diễn và diễn viên. “Năm 1945-1975, tại miền Bắc, Nghệ thuật sân khấu Chèo đạt tới sự phát triển rực rỡ nhất và đó cũng là thời kỳ hưng thịnh của nhà hát. Những vở, những tích, như Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Cô Son, Tú Uyên Giáng Kiều, Phạm Ngũ Lão, Những cô thợ dệt, Sợi tơ vàng, Ni Cô Đàm Vân, Từ Thức, Kim Nham… không ai là không biết, và cho đến những năm gần đây, những vở Chèo hiện đại như, Nàng Sita, Ngọc Hân công chúa, Mối tình Đuông Na Ly, Đêm hội Long Trì ,Biển Khổ, Nàng Mai vạn Lịch,… đã để lại cho người xem những tình cảm tốt đẹp. Thật khó hình dung nổi vở chèo Nàng Sita (Sau đổi tên thành Nàng Xê-Đa) diễn tới 1.000 buổi, có ngày diễn tới ba suất mà vẫn bán hết vé trong những năm 80 của thế kỷ trước”, NSƯT Thuý Mùi tự hào nhắc lại.

Kế bên những tấm ảnh đen trắng là những bức ảnh màu độ nét cao đúng “chất chèo” – hình ảnh của một số vở diễn gần đây của Nhà hát như: Lý Thường Kiệt, Oan khuất một thời, Cao Bá Quát, Ngọc Hân công chúa, Tum Tiêu,… Tạo hình nhân vật đã có nhiều đổi khác, sân khấu cũng hiện đại hơn, nhưng tình yêu với nghệ thuật Chèo dường như vẫn vẹn nguyên qua nhiều thế hệ.

Bảo tồn và phát huy

Lật giở lại những bức hình cũ, tìm về những vở diễn xưa, tôi không khỏi ngạc nhiên bởi kho tư liệu khá đầy đủ mà Nhà hát Chèo Hà Nội còn lưu giữ được. Đó không chỉ là thành quả của việc “giữ kho” mà còn cho thấy sự trân trọng đặc biệt của Nhà hát với di sản sân khấu của thế hệ đi trước. NSƯT Thuý Mùi cho biết: Nhà hát đã xây dựng và đang tổ chức thực hiện đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật Chèo truyền thống”. Trong đề án này, Nhà hát đặt mục tiêu sẽ biên soạn một số đầu sách quan trọng về Lịch sử Chèo Hà Nội, Nghệ thuật Chèo cổ truyền, Những kỹ thuật cơ bản trong nghệ thuật Chèo và Kỷ nguyên mới của Chèo; phấn đấu xây dựng tủ sách riêng của Nhà hát với khoảng 1.500 cuốn và tài liệu chuyên ngành, từ 30 – 40 đĩa DVD lưu vở diễn chất lượng cao, từ 120 – 150 đĩa CD để lưu âm thanh, kèm theo máy móc và thiết bị chuyên dùng. Trọng tâm của dự án là phục dựng vở diễn. Nhiều vở chèo cổ kinh điển như: Quan Âm Thị Kính, Tấm Cám, Trương Viên,Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham và các trích đoạn: Suý Vân, Phù Thuỷ sợ ma, Tuần ty Đào Huế, Thị Mầu lên chùa… đã được Nhà hát phục hồi và lưu giữ. Đồng thời Nhà hát cũng dàn dựng thành công nhiều vở diễn đề tài lịch sử được khán giả hâm mộ như: Cao Bá Quát, Tống Trân – Cúc Hoa, Chuyện tình người mất tích… Nhà hát đang ấp ủ dự định làm một bảo tàng nhỏ về nghệ thuật Chèo.

Một câu chuyện khác. Tại Liên hoan Chèo về đề tài hiện đại được tổ chức tại Thái Bình những ngày cuối năm này, trong khi có tới 5 đoàn chèo xin không tham dự vì không có tác phẩm, thì nhà hát Chèo Hà Nội xin tham dự với 2 vở (chỉ có 3 nhà hát có 2 vở tham dự: Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Chèo Hà Nội và Nhà hát Chèo Quân đội). Vở Quan lớn về làng của Nhà hát đã dành Huy chương vàng, bên cạnh đó là 6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc dành cho các cá nhân. Một thành tích khiến các chiếu chèo khác phải nể phục. Thực ra, ngay từ những năm 50-60 của thế kỷ trước, Nhà hát đã có những vở phản ánh những vấn đề thời sự của đất nước, hơi thở thời đại, nổi tiếng nhất có thể kể đến vở Cô thợ dệt, Mối tình Điện Biên, Hoa khôi dậy chồng, Chuyện tình thời sinh viên, hay vở Chuyện tình người mất tích sau này. Kết nối lại để thấy sự tìm tòi, đổi mới Chèo, để nghệ thuật Chèo đến gần hơn với khán giả hôm nay, là nỗ lực chưa bao giờ ngưng nghỉ ở Nhà hát.

Các thế hệ diễn viên của Nhà hát Chèo Hà Nội

Khởi đầu Đoàn Chèo Hà Nội tiếp thu được truyền thống của Đoàn Kim Lan, nơi hội tụ những nghệ nhân chèo xuất sắc. Họ đã tạo ra những vở diễn chuẩn mực, nức tiếng ở thập niên 50-65 mà sau này đã trở thành những vở diễn kinh điển như: Mối tình Điện Biên (ảnh 8,11), Tấm Cám (ảnh 3),… Đó là NSND Hoa Tâm, Ba Nghị, Tư Liên tài danh nức tiếng từ thời đoàn Kim Lan; là nghệ sĩ Hoàng Lìu – một kép áo dài rất tài ba; nghệ sĩ Nguyệt Tiêm vừa đàn vừa hát, có công đào tạo nhiều nghệ sĩ nổi tiếng sau này; nghệ sĩ Tuyết Lễ với chất giọng tuyệt vời; là hề nữ nổi tiếng Minh Nguyệt; là những diễn viên kỳ cựu: Hoàng Từ, Cải Sửu,…

Thế hệ diễn viên thứ hai của Nhà hát chính là lứa học trò xuất sắc của các nghệ sĩ thế hệ đầu và họ đã thành danh trên sân khấu chèo vào những năm 65-80. Đó là NSND Thanh Trầm (ảnh 13), Quý Bôn, Xuân Quân, Kim Khánh, Thanh Chức, Văn Chính, Huy Hoàng, Minh Tiếp, Duy Tân, Tuyết Nga, Ngọc Bích, Minh Toan, Bích Nhuần, Mạnh Phóng, Thanh Tâm, Minh Nguyệt, Ngọc Chung, Phan Hồ… Thế hệ này gắn với những vở diễn nổi tiếng: Cô Son (ảnh 1, 14), Quan Âm Thị Kính (ảnh 7), Phạm Ngũ Lão (ảnh 2)…

Thế hệ diễn viên thứ ba thành danh vào những năm 80-95 và là những tên tuổi vẫn còn rất ấn tượng với khán giả hôm nay. Đó là các NSƯT: Quốc Chiêm, Xuân Hanh, Mai Hương (ảnh 12), Lâm Bằng, Thuý Mùi (ảnh 5), Lan Anh, Quốc Anh (ảnh 9), Xuân Hinh, Đức Thuận, Ngọc Ánh…

Những gương mặt nổi tiếng hiện tại từ 95 đến nay như nghệ sĩ Thu Hằng, Duy Thuận, Thu Huyền (ảnh 6), Mạnh Hùng, Ngọc Phú, Minh Nhan, Thanh Loan… thuộc thế hệ diễn viên thứ tư của Nhà hát. Nhà hát Chèo Hà Nội cũng là cái nôi nức tiếng trong việc thu hút và đào tạo được dàn diễn viên trẻ tài năng đến từ những vùng quê chèo đất Bắc như: Quốc Phòng, Phương Mây (diễn xuất cùng Thu Huyền trong vở Quan Âm Thị Kính, ảnh 4), Thu Hoà, Hoài Nam, Mạnh Thắng, Thanh Hiền, Đào Dũng, Thanh Mai, Thu Hà, Lê Tuấn, Lệ Hằng…

Thành tích Năm 1987 Nhà hát Chèo Hà Nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba. Năm 2004 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng nhì. Nhà hát thường xuyên được nhận bằng khen của Thành phố, Bộ VH-TT-DL và Cờ thi đua của Sở VH-TT-DL. Nhiều nghệ sĩ đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT và NSXS Thủ đô. Nhà hát Chèo Hà Nội được đánh giá là một trong những đơn vị nghệ thuật truyền thống đứng đầu cả nước.
Administrator Account

Nhà hát Chèo Hải Dương khai trương vở mới

Sáng 11.7.2012, Nhà hát chèo Hải Dương đã tổ chức khai trương vở chèo mới: Chuông ngân rừng trúc.
Đến dự có đồng chí Đặng Thị Bích Liên, UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Tác giả Tiến sĩ Trần Đình Ngôn; đạo diễn NSND Bùi Đắc Sừ; dạy hát truyền thống NSND Thanh Hoài; đại diện lãnh đạo Sở VHTTDL và một số Sở, ban, ngành, đơn vị liên quan.
Vở chèo Chuông ngân rừng trúc là đề tài lịch sử tôn vinh danh nhân, Thiền sư Pháp Loa. Tại buổi khai trương, Giám đốc Nhà hát chèo Hải Dương, nghệ sỹ Bùi Quang Toàn đã giao vai cho các nghệ sỹ. Vai Pháp Loa Tôn giả do NSUT Mạnh Thắng và nghệ sỹ Sông Thương đảm nhiệm. 12 vai khác do các nghệ sỹ của Nhà hát chèo từng tham gia liên hoan sân khấu chèo toàn quốc đảm nhiệm.
Phát biểu tại buổi khai trương vở mới, đồng chí Đặng Thị Bích Liên – UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho lãnh đạo, nghệ sỹ, diễn viên Nhà hát Chèo tích cực tập luyện, phấn đấu hoàn thành theo đúng kế hoạch đã đề ra với chất lượng chuyên môn cao nhất.
PV
Tạp chí Văn hoá thể thao du lịch online