Người Việt nghe gì, xem gì trong 10 năm trước Đổi mới

Đa số nghe đài, đi xem hội diễn, gia đình có điều kiện xem tivi đen trắng Nép-tuyn, sang hơn thì đổi đồng hồ Peugeot lấy vé xem kịch hay phim chiếu rạp.

Sau năm 1975, cả nước bước vào thời bao cấp, thay vì chỉ miền Bắc như trước đó. Trong bối cảnh đời sống hậu chiến nhiều khó khăn, phương tiện giải trí còn nghèo nàn.

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhớ lúc đó truyền hình bắt đầu đến với người dân nhưng thời lượng ít, chủ yếu tin tức, nội dung chính trị. Văn nghệ trên tivi thường là vài bài hát huy động mọi người ra mặt trận, một số vở kịch, phim truyền hình của các nước Xã hội Chủ nghĩa, vẫn với mục tiêu chính là tuyên truyền.

NSND Lê Tiến Thọ – chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – nhớ sau năm 1975, ở miền Bắc chỉ một số cơ quan mới có tivi. Đến 1985, gia đình nào oách lắm mới có. “Hồi 1985, tôi đi Nga về có cái tivi đen trắng, mỗi lần đá bóng cả khu văn công Mai Dịch đổ sang xem, xì xụp suốt đêm. Có lần đoàn tuồng chúng tôi lên trụ sở của đài khi đó ở 58 Quán Sứ để diễn vở cho truyền hình, được một phiếu mua tivi Nép-tuyn (Neptune). Tối cả đơn vị ngồi xem phải vỗ vỗ mới lên được hình”, ông Thọ nhớ.

Ở miền Nam, từ năm 1976, Đài Vô tuyến Truyền hình Sài Gòn Giải phóng được đổi tên thành Đài Truyền hình TP HCM, chủ yếu phát các chương trình chính trị, xã hội, văn hóa.

Khi truyền hình chưa phát triển, để giải trí, người dân phần lớn nghe đài, dự các hội diễn văn nghệ quần chúng hay xem xiếc, xem kịch, đi nghe nhạc…

Sân khấu giữ một vị trí quan trọng với người dân cả nước giai đoạn này.

Ở Hà Nội, sân khấu kịch nói phát triển mạnh mẽ. “Lúc bấy giờ, ra vở nào khán giả cũng đón nhận hào hứng. Nhà hát Kịch, rạp Công An, Đại Nam, Công Nhân, Nhà hát Lớn… có khán giả xếp hàng dài. Thậm chí, có người đổi đồng hồ Peugeot để lấy một đôi vé đi xem kịch. Lúc bấy giờ họ ở chiến trường ra, được xem một vở diễn thì sướng lắm”, NSND Lê Tiến Thọ kể.

Đội ngũ đạo diễn mạnh gồm các tên tuổi như Phạm Đình Nghi, Phạm Thị Thành, Đoàn Anh Thắng… đều được đào tạo ở Nga. Về tác phẩm, Lưu Quang Vũ gây tiếng vang với Tôi và chúng ta, Lời thề thứ chín, Hồn Trương Ba, da hàng thịt…, Doãn Hoàng Giang với Hà My của tôi

Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam – Lê Thế Vinh – nhớ sự phát triển của sân khấu khi đó còn thể hiện qua hoạt động rầm rộ của phe vé. Các đoàn thường đùa với nhau phe vé là hội đồng thẩm định nghệ thuật thứ hai. “Hội đồng phe vé rất nhanh nhạy, hễ vở nào họ ôm vé là y như rằng thành công”, ông Vinh đùa.

Ngoài diễn ở thành thị, các đoàn đi khắp nơi để diễn cho người dân. Khán giả nô nức kéo đến. Mỗi đêm đến 3.000, 4.000 người, xếp hàng mua vé, chen chúc, thậm chí đánh nhau. Chỉ tiêu của các đoàn là mỗi năm dựng hai, ba vở và khoảng hơn 200 buổi đi biểu diễn phục vụ cả nước.

Thời gian này, sân khấu truyền thống (tuồng, chèo…) đứng trước thách thức của thị hiếu mới. Theo NSND Lê Tiến Thọ, để có thể tồn tại, sân khấu truyền thống phải chấp nhận cải biên. Đặc biệt, sau 1975, nhiều nghệ sĩ cải lương từ trong Nam như Thanh Kim Huệ, Út Bạch Lan, Minh Vương, Lệ Thủy đổ bộ ra Bắc, trở thành “ông hoàng bà chúa” trong khoảng vài năm.

Ở TP HCM và cả miền Nam lúc đó, kịch nói và cải lương vẫn hoạt động mạnh. Sân khấu cải lương phía Nam có hai hình thức: tư nhân và Nhà nước. Dù vậy, hầu hết đoàn hát cải lương cũ bị giải tán, thay bằng những đoàn mới do các cơ quan, đoàn thể Nhà nước thành lập.

NSND Bạch Tuyết nhớ các đoàn cải lương Sài Gòn 1, Sài Gòn 2, Thanh Minh – Thanh Nga, Văn công Thành phố… hoạt động sôi nổi. Mỗi đoàn đều có nhà hát, trụ sở riêng để tập luyện. Các vở chủ đề xã hội, dân gian, lịch sử như Tiếng trống Mê Linh, Tâm sự Ngọc Hân, Đời cô Lựu, Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn hào hoa… được dàn dựng hoành tráng. Nghệ sĩ kể đầu năm 1979, bà được mời diễn vai Dương Vân Nga trong vở cùng tên tại Nhà hát Trần Hữu Trang.”Chúng tôi phải diễn một ngày hai hoặc ba suất mới có thể đáp ứng phần nào yêu cầu của khán giả. Có lúc, người xem các nơi phải đặt vé trước hàng tháng”.

Về kịch nói, một thời gian dài, các vở Dưới hai màu áo, Lá sầu riêng, Huyền thoại mẹ… chinh phục người xem. Nữ nghệ sĩ Kim Cương nhớ khi vở Lá sầu riêng được đưa lên truyền hình đã tạo cơn sốt không chỉ miền Nam mà cả khán giả phía Bắc.

Nam bộ khi đó còn chứng kiến thời kỳ hoàng kim của hát bội. Các đêm hát bội vẫn có vé chợ đen và được xem là loại hình được xếp ngang hàng với cải lương và kịch nói.

Âm nhạc cũng phát triển phong phú hơn trong đời sống người dân so với thời kỳ chiến tranh và có sự chuyển hướng ở cả hai miền.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, sau thống nhất, ngoài các ca khúc chính trị – cách mạng trên đài, tivi hay loa phát thanh, miền Bắc bắt đầu tiếp xúc với máy hát, băng đĩa và một số loại hình nghệ thuật từ miền Nam. Những ca khúc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn về tình yêu, triết lý đời sống, nhạc phản chiến được lưu truyền mạnh, dù không phát trên những phương tiện truyền thông Nhà nước. Đó là lúc văn hóa đô thị Sài Gòn bắt đầu ảnh hưởng ra miền Bắc.

Ở miền Nam, đời sống âm nhạc lại chuyển hướng theo cách khác. Tại TP HCM, nhạc trẻ, sinh hoạt bar, club rộn ràng trước đây đã hoàn toàn vắng bóng. Khoảng năm 1977 trở đi, phong trào hát ca khúc chính trị phát triển rầm rộ. Những nhạc phẩm như Xuân chiến khu, Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây, Trị An âm vang mùa xuân, Viếng lăng Bác…. vang lên khắp nơi.

Ca sĩ Ánh Tuyết – một thời là giọng hát đình đám ở miền Trung – nhớ phong trào này rất mạnh ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Huế, Nha Trang. “Thời đó ở Huế, một đêm tôi chạy show hai điểm như Rạp Hưng Đạo, cung An Định. Rồi chạy show hát ở các đại học, nhà máy hay chui xuống hào làm đá hát cho công nhân nghe”, Ánh Tuyết nhớ lại.

Tại TP HCM, từ sau năm 1982, các tụ điểm ca nhạc như 126 (nay là Cầu Vồng), tụ điểm Kỳ Hòa (quận 10), Phú Thọ (quận 11), Tao Đàn (quận 1)… phát triển mạnh, thu hút nhiều ca sĩ ngôi sao như Ngọc Anh, Nhã Phương, Bảo Yến, Hồng Hạnh, Họa Mi… Những đêm diễn có tụ điểm thu hút hàng nghìn khán giả. Không chỉ công nhân viên chức, người lao động cũng có thể đến xem với giá vé mềm. Có tụ điểm thường xuyên tổ chức các buổi văn nghệ miễn phí quy tụ nhiều ca sĩ được yêu thích.

Đến khoảng năm 1985 – 1986, phong trào ca khúc chính trị giảm nhiệt, nhiều bài hát mới được sáng tác có màu sắc đa dạng hơn của Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Huy, Thanh Tùng, Trần Tiến, Dương Thụ, Phú Quang…

Điện ảnh cả nước khi đó chưa phổ biến nhưng đi sâu về chất lượng cả ở nội dung lẫn cách thưởng thức.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh kể ở Hà Nội và TP HCM thời đó có một mạng lưới rạp chiếu phim nhựa từ thời cũ để lại. Khi đó chưa có âm thanh nổi, âm thanh vòm và các multiplex (rạp liên hợp) như bây giờ. Ngoài tác phẩm điện ảnh Việt, rạp còn chiếu phim nước ngoài (chủ yếu phim Nga) với hình thức đọc lời thoại kèm theo trong lúc chiếu. Âm thanh và lời thoại của phim thường bị dìm đi để nghe rõ tiếng đọc thuyết minh.

Theo đạo diễn, thời đó người lớn tuổi cũng hay đi xem phim chứ không như bây giờ khán giả đa số là thanh thiếu niên. Các phim giải trí, hành động rất ít. “Đi xem phim là để thu hoạch một điều gì bổ ích cho cuộc sống, cho tâm hồn. Thời đó không ai quan niệm điện ảnh là giải trí”. Theo đạo diễn, chính nhờ vậy mà thời bao cấp điện ảnh có những tác phẩm để đời như Mối tình đầu, Bao giờ cho đến tháng 10… Chỉ có các hãng phim của nhà nước và một nhà phát hành là Phát hành phim Trung ương vào giai đoạn này.

“Trung bình mỗi năm sản xuất từ 15 đến 20 phim truyện và vài chục phim tài liệu hoạt hình. Nội dung chủ yếu phục vụ những nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ tuy vậy cũng có những phim đề tài tâm lý xã hội, phê phán những mặt tiêu cực trong đời sống”, Đặng Nhật Minh nói.

Ở miền Nam, mảng phim ảnh không sôi nổi bằng các loại hình khác nhưng vẫn để lại dấu ấn sâu đậm. Vì chuyện cơm áo gạo tiền, người đến rạp xem phim vẫn còn hạn chế. Nhiều khán giả lâu lâu mới có dịp đi xem phim một lần. Chỉ đến khi phim như Ván bài lật ngửa (1982) công chiếu, khán giả ‘rồng rắn’ kéo nhau đến rạp, tạo không khí đình đám.

“Bộ phim thật sự tạo ‘cơn sốt’ với khán giả cả nước vì đạo diễn Lê Hoàng Hoa đã làm phim đề tài cách mạng theo phong cách hoàn toàn khác hẳn các bộ phim trong nước giai đoạn này. Ván bài lật ngửa đậm chất giải trí, cuốn hút người xem chứ không cường điệu hay nặng về tuyên truyền”, NSƯT – đạo diễn Lê Cung Bắc chia sẻ.

Trong 10 năm, Xí nghiệp phim tổng hợp (sau này gọi là hãng phim Giải phóng) cùng hãng phim Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc thành phố đã cho ra đời 50 bộ phim nhựa gồm 14 phim màu, 36 phim đen trắng, trong đó có nhiều phim gây sốt như Cánh đồng hoang (1979), Ván bài lật ngửa, Mùa gió chướng

Năm 1981, Sài Gòn có phim màu chiếu rạp đầu tiên – phim Về nơi gió cát (biên kịch và đạo diễn Huy Thành) – quy tụ các diễn viên Hương Xuân, Hồ Kiểng, Trần Vịnh… Bộ phim được khán giả ủng hộ nhiệt tình vì mới lạ so với dòng phim đen trắng. Báo chí thời đó dành nhiều trang viết về bước tiến mới của loại hình phim chiếu rạp.

(Nguồn: Hoàng Thanh Vân – Báo Điện tử Vnexpress)

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Chương trình nghệ thuật Chào năm mới 2017

Đây là chương trình nghệ thuật tổng hợp được xây dựng từ những tiết mục tiêu biểu của hầu hết các đơn vị nghệ thuật, cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ VHTTDL với nhiều bộ môn nghệ thuật thuộc hai loại hình nghệ thuật Sân khấu và Ca múa nhạc do Bộ VHTTDL tổ chức. Chương trình sẽ diễn ra vào 20h00 các ngày 21, 22, 23.12.2016 tại Nhà hát Lớn, số 1 Tràng Tiền, Hà Nội.

Chương trình do Cục Nghệ thuật biểu diễn, Văn phòng Bộ VHTTDL và Nhà hát Lớn Hà Nội chủ trì thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện cùng các trợ lý: NSND Ngô Hoàng Quân; NSND Nguyễn Minh Thông; NSND Quang Vinh.

Chương trình sẽ huy động lực lượng nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc công, diễn viên của: Học viện Âm nhạc Quốc gia VN, Học viện Âm nhạc TP.HCM, Học viện Âm nhạc Huế, Nhà hát Ca múa nhạc VN, Nhà hát Nhạc vũ kịch VN, Nhà hát Nghệ thuật đương đại VN, Dàn nhạc Giao hưởng VN, Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc, Nhà hát Chèo VN, Nhà hát Tuồng VN, Nhà hát Cải lương VN, Nhà hát Múa rối VN.

Thiết kế sân khấu của chương trình sẽ được làm mới và có hệ thống màn hình LED thay thế cho phông phía sau và hai bên cánh gà. Các nhà thiết kế sẽ sử dụng phông mềm, máy chiếu để thay đổi không gian, chuyển cảnh, đạo cụ, sắp xếp đội hình nhạc công, nghệ sĩ cho các tiết mục sử dụng nhiều nhạc cụ, diễn viên.

Chương trình có tổng thời lượng khoảng 120 phút với các phần: Khai từ và 2 phần nội dung chính. Màn khai từ là trình diễn của Dàn nhạc Giao hưởng VN với bản giao hưởng “Người về đem tới ngày vui” (âm nhạc: Văn Cao – Trọng Bằng, chỉ huy: Nhạc trưởng Honna Tetsuji). Nội dung Phần một là các tiết mục nghệ thuật truyền thống đặc sắc. Phần hai là các tác phẩm nghệ thuật ca múa nhạc phát triển từ chất liệu dân gian, truyền thống cùng một số tác phẩm cổ điển châu Âu.

Sẽ có những tiết mục dàn dựng đặc biệt như nhạc cảnh Cung chúc tân xuân với sự phối hợp biểu diễn giữa các làn điệu (Chèo) Sử xuân và Tứ quý cùng Hề mồi, Hề gậy, Múa cờ và Ông già cõng vợ đi xem hội (Tuồng) do nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam và Nhà hát Tuồng Việt Nam phối hợp biểu diễn. Có rất nhiều ca khúc đơn ca ở nhiều thể loại được các nghệ sĩ, ca sĩ tên tuổi của các đơn vị nghệ thuật trình diễn như: Bài vọng cổ tôi yêu (NSND Vương Hà), Gọi Anh (NSƯT Mã Minh Huệ và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc”, hát chầu văn Huế trọn nghĩa tình (ca sĩ Mai Chung và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Mẹ yêu con (ca sĩ Anh Thơ và Dàn nhạc Giao hưởng dân tộc Học viện Âm nhạc Quốc gia VN thực hiện), Tổ quốc gọi mình (NSƯT Tạ Minh Tâm và tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN), Hòa tấu Ngư phủ Triều khúc (ca sĩ Đức Liên và Dàn nhạc Nhà hát Ca múa nhạc VN), Thời hoa đỏ (NSND Thái Bảo trên nền tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN)…

Các tiết mục song ca và biểu diễn tập thể: Múa rối Vũ điệu tâm linh (Nhà hát Múa rối VN), Múa những bông đỏ của rừng (tốp múa nữ Nhà hát Ca múa nhạc Dân gian Việt Bắc), Tình ca mùa xuân (Song ca nam nữ và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Lời ru của rừng (tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN), Acapella Dòng sông thương nhớ (song ca cùng dàn ca sĩ Nhà hát Ca múa nhạc VN), Song tấu sáo trúc Cánh chim tự do (Nhà hát Nghệ thuật đương đại VN), Những ánh trăng đỏ (tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Ballet Những đóa hồng (tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN).

Quy tụ lực lượng tác giả, đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ và nghệ sĩ biểu diễn đều là những đại diện tiêu biểu, nòng cốt của hai loại hình nghệ thuật sân khấu và ca múa nhạc, chương trình nghệ thuật chào năm mới 2017 sẽ mang tới cho khán giả thủ đô một chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp được dàn dựng công phu, thiết kế quy mô và một không gian thưởng thức nghệ thuật tinh tế, sang trọng.

Đào Anh; ảnh: Trần Huấn

(Trích đăng lại tin từ Báo văn hóa điện tử)

 

Tổ chức Lễ hội Đền Hùng 2010 theo chủ đề 1.000 năm Thăng Long

(Dân trí) – Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2010 ở quy mô cấp quốc gia. Bên cạnh đó, nhiều chương trình trong lễ hội năm nay có chủ đề hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Lễ hội Đền Hùng 2010 sẽ diễn ra trong 10 ngày, từ ngày 14/4 đến 23/4, tức từ ngày 1 đến 10/3 năm Canh Dần. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2010 sẽ được tổ chức ở quy mô cấp quốc gia. Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch và Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đang gấp rút chuẩn bị để ngày Giỗ Tổ diễn ra long trọng, hoành tráng và giàu ý nghĩa.

Lễ khai mạc Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng năm nay sẽ gắn với Ngày hội văn hoá, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ 7 năm Canh Dần – 2010, với chủ đề “Linh thiêng đất cội nguồn”. Lễ dâng hương Giỗ Tổ và cúng Trời tại đền Thượng sẽ diễn ra vào 7h00 sáng 10/3 âm lịch (tức ngày 23/4).
Phần lễ sẽ có sự tham gia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ và các đơn vị góp giỗ. Phần hội bao gồm các hoạt động phong phú như: thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh dầy; giao lưu dân ca các vùng miền; rước kiệu của các xã vùng ven di tích về Đền Hùng; bắn pháo hoa tầm cao; triển lãm ảnh tư liệu ngoài trời Các vùng kinh đô Việt Nam”; trưng bày hiện vật về nhà nước Văn Lang, thời đại Hùng Vương; trưng bày hiện vật thời Lý – Trần; triển lãm ảnh tư liệu “Giỗ Tổ Hùng Vương xưa và nay”; triển lãm sách tư liệu “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam”…
Đặc biệt, Lễ hội Đền Hùng năm nay còn có chương trình nghệ thuật đặc sắc hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 Thăng Long – Hà Nội với chủ đề “Kinh đô Văn Lang – Thăng Long – Hà Nội ngàn năm toả sáng”. Song song với đó là chương trình trình diễn màn sử thi võ thuật dân tộc với chủ đề “Hào khí đất Việt”. Các chương trình sẽ được dàn dựng công phu, hoành tráng, sử dụng các kỹ xảo âm thanh, ánh sáng sinh động, toát lên vẻ đẹp và tiềm năng của đất nước, con người Việt Nam.
Dự kiến, Lễ hội Đền Hùng năm nay sẽ thu hút khoảng gần 3 triệu lượt du khách.

Liên hoan “Âm thanh Hà Nội” – 2010: Không chỉ có âm nhạc

LĐ) – 80 nghệ sĩ của 16 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ tham gia giao lưu, biểu diễn tại Liên hoan nghệ thuật “Âm thanh Hà Nội” – 2010 do Học viện Âm nhạc quốc gia VN và Cty sản xuất và phát triển văn hóa M.A.M tổ chức từ ngày 26 – 28.3 tại Trung tâm HCTL Việt Nam ở đường Giảng Võ, Hà Nội.

“Âm thanh Hà Nội” là liên hoan âm nhạc điện tử quốc tế duy nhất tại VN, do nhạc sĩ Trí Minh khởi xướng từ năm 2008. Đây là lần thứ ba liên hoan được tổ chức và đạt kỷ lục so với những năm trước về số người tham gia và các hoạt động trong chương trình (năm đầu chỉ có 15 nghệ sĩ và 800 người tham gia, năm 2009 là 45 nghệ sĩ và 4.000 người).

Điều đặc biệt của chương trình năm nay là các thể loại âm nhạc: Nhạc sống (pop), nhạc thể nghiệm và trình diễn DJ sẽ được trình diễn lần lượt ở các buổi khác nhau để khán giả có thể làm quen và định hình với loại âm nhạc hiện đại này.

Với chủ đề “Không gian xanh” và cũng là một hoạt động nghệ thuật hướng tới đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, bên cạnh những hoạt động về âm nhạc, BTC còn phối hợp với các tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. BTC đã có sáng kiến phát hành vé là những chiếc vòng đeo tay bằng vải, có hình thêu tay, vừa thời trang, vừa như một vật kỷ niệm, đồng thời không xả rác ra môi trường.

Chủ sở hữu chiếc vòng này có thể vào cửa cả 3 ngày liên hoan. Và không chỉ vào “Ngày trái đất” (28.3) mà trong suốt cả 3 ngày liên hoan – vào lúc 20h30, các hoạt động liên quan đến âm thanh, nghệ thuật đều ngừng một thời gian để những thông điệp về môi trường lên tiếng.

“Âm thanh Hà Nội” sẽ diễn ra hằng ngày từ 9h – 23h với các hoạt động trình diễn thời trang, trò chơi, chiếu phim, hội thảo và các buổi diễn âm nhạc tại các sân khấu trong nhà và ngoài trời.

Kết thúc Liên hoan tiếng hát dân ca và những gì còn lại…

Hai đêm chung kết đã khép lại cuộc hành trình hơn ba tháng đầy mầu sắc và ôm chứa những giá trị văn hóa không dễ đo đếm được của Liên hoan tiếng hát dân ca toàn quốc 2005, do Ðài Truyền hình Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và Hội Văn nghệ dân gian tổ chức từ tháng 5-2005.
Có lẽ chưa bao giờ dân ca Việt Nam lại có được một cuộc trình diễn quy mô và hoành tráng như thế. Với mô hình tổ chức gần giống như cuộc hành trình của Sao Mai – Ðiểm hẹn, Liên hoan đã có tám chương trình chung kết được tổ chức tại tám khu vực trong cả nước, và truyền hình trực tiếp vào các tối thứ bảy, từ cuối tháng 5-2005.

Tham gia biểu diễn trong Liên hoan, bên cạnh các nghệ nhân của các vùng miền có độ tuổi từ 20-60, có vốn âm nhạc dân gian rộng và độc đáo, còn có các nghệ sĩ trẻ của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của các địa phương. Từ sân khấu của Liên hoan, Ban tổ chức hy vọng sẽ lựa chọn, sàng lọc được những giọng ca có triển vọng để bồi dưỡng, đào tạo thành những đại diện tiêu biểu cho dòng nhạc dân ca, góp phần đưa dân ca chiếm lĩnh vị trí xứng đáng trong đời sống xã hội.

Gần 700 nghệ nhân, nghệ sĩ đại diện cho 29 dân tộc anh em từ 56 tỉnh, thành trong cả nước đã làm nên một cuộc trình diễn đầy mầu sắc và ấn tượng, giới thiệu với công chúng cả nước những làn điệu dân ca thấm đẫm nhân tình, kết tinh từ những nét văn hóa đặc sắc nhất của đời sống tinh thần mỗi dân tộc. Từ những câu hò, điệu hát ru, điệu lý, các hình thức diễn xướng cộng đồng… các tiết mục biểu diễn trong Liên hoan còn giới thiệu với người xem những nét tiêu biểu trong sinh hoạt văn hóa của mỗi tộc người, thông qua các hình thức sinh hoạt lễ hội, trang phục và nhạc cụ. Liên hoan không chỉ tạo nên một sân chơi sang trọng và hoành tráng cho loại hình dân ca đang có nguy cơ mai một, làm nên một ngày hội biểu dương lực lượng đầy thuyết phục của các giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc, mà còn tạo điều kiện cho các nghệ nhân, nghệ sĩ các vùng, miền giao lưu và tìm hiểu những giá trị độc đáo trong văn hóa của các dân tộc anh em. Trong một xã hội đang hiện đại hóa với tốc độ chóng mặt, thì sự nhiệt tâm, gắng gỏi của những người làm công tác tổ chức là vô cùng đáng quý, đáng trân trọng và cần được tiếp nối, nhân rộng.

Khép lại trong dư âm lưu luyến, rất nhiều câu hỏi đang được “mở ra” đối với những người làm công tác văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống. Ðặt mục tiêu hướng vào giới trẻ, và được ưu tiên phát sóng trong “giờ vàng” của ngày nghỉ cuối tuần, các chương trình trong Liên hoan, ít nhiều đã thu hút được sự quan tâm của dư luận xã hội.

Tuy nhiên, dường như các nhà tổ chức đã quá chú tâm vào vấn đề hình thức biểu diễn, mà chưa thật sự đào sâu những tầng văn hóa ẩn chứa bên trong mỗi làn điệu, lời ca, nên đã sân khấu hóa tất cả các loại hình, đưa tất cả các làn điệu vào chung một sàn diễn với phông màn, nhạc cụ, trong khi dân ca vốn được sản sinh và nuôi dưỡng trong môi trường tự nhiên, gắn bó chặt chẽ và bảo lưu sức sống trong cuộc sống đời thường.

Bổ khuyết vào sự thiếu hụt đó, các nhà tổ chức đã dụng công xây dựng nhiều phóng sự về đời sống thực của các làn điệu, chuyển tải phần nào thông điệp nhân văn từ mỗi loại hình. Người xem có thể vẫn rất trân trọng những nghệ nhân cao tuổi đến từ những miền đất xa xôi, và sẵn sàng đón nhận những thông điệp văn hóa mà họ chuyển tải, nhưng vì trên sân khấu rực rỡ đèn mầu, họ đã không thể hiện được hết sự hồn nhiên, trong sáng và phong thái tự tin vốn có. Sức hấp dẫn, vì thế, chưa hẳn đã tròn đầy.

Ðể làm nên cuộc hành trình hiếm có của mình, các nhà tổ chức Liên hoan đã tìm kiếm, và phát hiện không ít những làn điệu, và các nghệ nhân vốn vẫn còn ẩn khuất sau những thôn làng yên ả. Một cuộc tổng kiểm kê, dẫu chưa trọn vẹn, cũng là rất đáng quý và không phải nơi nào cũng có điều kiện thực hiện được. Nhưng nếu không nhanh tay và cẩn trọng, các địa phương sẽ nhanh chóng để mất những giá trị vừa được khơi dậy, bởi thời gian và sự thờ ơ của con người hiện đại có sức mài mòn, tàn phá ghê gớm các giá trị văn hóa, nhất là văn hóa phi vật thể, vốn tồn tại và phát triển gắn chặt với những tên tuổi nghệ nhân.

Trên cơ sở những kết quả vừa thu được, một chiến lược đầu tư, đào tạo và bảo tồn các làn điệu dân ca, nếu được làm bài bản và chặt chẽ, có tính khoa học, sẽ giúp bảo lưu và phổ biến dân ca đến đông đảo quần chúng. Cũng như những giọng hát dân ca được đánh giá cao tại Liên hoan, nếu được quan tâm chu đáo, có thể trở thành những đại diện tiêu biểu, góp phần nhân rộng sức sống của loại hình âm nhạc lâu đời, giàu sức sống và tiềm ẩn nét đặc trưng dân tộc này.

Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chủ đề 1000 năm Thăng Long – Hà Nội giành giải cao

SGGP – Lễ trao giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2009 đã diễn ra ngày 8-1 tại Hà Nội nhằm tôn vinh các tác giả, tác phẩm xuất sắc nhất ở các loại hình: thanh nhạc, khí nhạc và lý luận.
Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam Đỗ Hồng Quân cho biết: năm nay, Hội nhận được 161 tác phẩm thanh nhạc; 23 tác phẩm khí nhạc; 13 hợp xướng; 13 công trình nghiên cứu lý luận và 3 công trình của nghệ sĩ biểu diễn. Trong đó lĩnh vực thanh nhạc gồm ca khúc, ca khúc thiếu nhi, hợp xướng, ca khúc nghệ thuật vẫn giữ vị trí hàng đầu với đề tài mở rộng, phong phú hơn.
Chủ đề về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được các tác giả đề cập đậm nét. Có thể kể đến các ca khúc như “Trăng về phố” của Lê Mây; “Thăng Long- Hà Nội nhớ” của Tố Hải; “Rạng ngời Hoa Lý- Thăng Long” của Đức Minh; “Rùa vàng ngàn năm” của Vũ Trung; giao hưởng “Thăng Long ngàn năm bừng sáng” của Nguyễn Tiến; “Thăng Long” của Nguyễn Kiên Cường…
Bên cạnh chủ đề Thăng Long- Hà Nội, đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng được nhiều tác giả hưởng ứng. Có thể kể đến tác phẩm “Học tập Bác Hồ” của Phạm Minh; “Một lần bên Bác” của Phạm Đăng Khương phổ thơ Trần Thế Tuyển; “Trường Sa âm vang lời Bác” của Trương Quan Lục phổ thơ Nguyễn Ngọc Trạch…
Giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2009 có 5 giải nhất, trong đó có 3 giải Nhất dành cho ca khúc. Đó là ca khúc “Dời đô – Ngàn năm vang mãi” của Nguyễn Tiến; romance “Giấc mơ mùa lá” của Trần Mạnh Hùng và romance “Dòng trăng lúng liếng” của Ngô Quốc Tính. Nhạc sĩ trẻ Trần Mạnh Hùng còn giành một giải Nhất với giao hưởng thơ “Lệ Chi viên” ở thể loại khí nhạc. Công trình nghiên cứu “Ca nhạc bài chòi, ca nhạc kịch hát bài chòi” của tác giả Trương Đình Quang giành giải Nhất loại hình lý luận.
Ngoài ra Hội Nhạc sĩ Việt Nam còn trao 9 giải Nhì, 28 giải Ba, 21 giải Khuyến khích và 4 tặng thưởng cho các tác giả đoạt giải.
Ca khúc “Dời đô – Ngàn năm vang mãi” của nhạc sĩ Nguyễn Tiến được viết dựa trên âm điệu hào hùng, mạnh mẽ của nghệ thuật tuồng truyền thống, thể hiện hào khí cha ông. Nhạc sĩ Nguyễn Tiến rất tâm đắc với “Chiếu dời đô” của Thái tổ Lý Công Uẩn, khâm phục tinh thần, ý chí “dời đô” của cha ông ngàn năm xưa để có Thăng Long – Hà Nội 1.000 năm tuổi hôm nay. Ca khúc này đã được chọn biểu diễn trong đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội sắp tới.
“Giấc mơ mùa lá” là hoài niệm một thời về Hà Nội cổ kính, trải qua đạn bom, khói lửa của tác giả trẻ Trần Mạnh Hùng. Anh viết ca khúc này dành tặng cho người vợ thân yêu của mình là ca sĩ Hồng Vy. Ca khúc này cũng xuất hiện trong album nhạc 10 ca khúc về Hà Nội của ca sĩ Hồng Vy sẽ ra mắt trong năm 2010. Tác giả trẻ Trần Mạnh Hùng hiện là giảng viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Giải thưởng Hội nghệ sĩ sân khấu năm 2009

Ngày 31/3/2010, Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam tổ chức trao giải thưởng Sân khấu thường niên tại Trung tâm Triển lãm Vân Hồ. Tham dự buổi lễ có nhà văn Kim Cuông, NSƯT Nguyễn Ngọc Trúc, đại diện các ban ngành, đơn vị, cá nhân được giải. 

Danh sách Khen thưởng những vở diễn Sân khấu; Ấn phẩm, Sách – Nghiên cứu – lý luận – năm 2009

I. Giải A: (Kèm theo 13.000.000 đồng cho mỗi giải)

 

TT TÊN VỞ DIỄN THỂ LOẠI TÁC GIẢ ĐẠO DIỄN ĐƠN VỊ
1. Trọn đời trung hiếu với Thăng Long Cải lương Phạm Văn Quý Hoàng Quỳnh Mai Nhà hát Cải lương Việt Nam
2. Linh khí Hoa Lư Chèo Bùi Vũ Minh NSND Lê Hùng Nhà hát Chèo Ninh Bình
3. Chiến trường không tiếng súng Chèo Phạm Văn Quý NSƯT Lê Huệ Nhà hát Chèo Nam Định
4. Mẹ và người tình Kịch nói Lê Chí Trung Minh Nhí Công ty cổ phần Sân khấu Điện ảnh Vân Tuấn CORP
5. Nỏ thần Kịch nói Lê Duy Hạnh Đỗ Đức Thịnh Công ty cổ phần Sân khấu Điện ảnh Vân Tuấn CORP
6. Mỹ nhân và Anh hùng Kịch nói Chu Thơm NSND Lê Hùng Nhà hát Kịch Việt Nam
7. Dời đô Cải lương Lê Duy Hạnh NSƯT Giang Mạnh Hà Đoàn Cải lương Đồng Nai
8. Trở về miền nhớ Cải lương Lê Duy Hạnh NSND Doãn Hoàng Giang – Trần Thắng Vinh Đoàn Cải lương Đồng Tháp
9. Một cây làm chẳng nên non Dân ca Nguyễn Đăng Chương NSND Xuân Huyền Tr.tâm bảo tồn và phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ
10. Hồn Việt Tuồng NSND Lê Tiến Thọ Đoàn Thanh Tâm NSƯT Hoàng Ngọc Đình Nhà hát Tuồng Đào Tấn

 II. Giải B: (Kèm theo 10.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN VỞ DIỄN THỂ LOẠI TÁC GIẢ ĐẠO DIỄN ĐƠN VỊ
1. Đế đô sóng cả Cải lương Triệu Trung Kiên Triệu Trung Kiên Nhà hát Cải lương Việt Nam
2 Đại thần Thăng Long Cải lương Nguyễn Anh Biên  NSƯT Trần Quang Hùng Nhà hát Cải lương Hà nội
3 Bến nước Ngũ Bồ Cải lương Hoàng Công Khanh Lê Nguyên Đạt Trường Đại học Sân khấu Điện Ảnh TP.HCM, Nhà hát thế giới trẻ
4 Cổ tích thời hiện đại Cải lương Lê Duy Hạnh NSƯT Trần Ngọc Giầu Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang
5. Cờ nghĩa Giồng Sơn Quy Cải lương Huỳnh Anh Tấn Lộc Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
6. Mẹ của chúng con Cải lương Lê Thu Hạnh  NSƯT Trần Ngọc Giầu Đoàn Cải lương Tây đô Cần Thơ
7. Rừng quả đắng Kịch Hà Đình Cẩn  Cố NSƯT  Khánh Vinh NSƯT Hoàng Mai –            Quốc Trị Đoàn kịch nói quân đội
8. Ai sợ ai Kịch Lê Bình  NSƯT Chí Trung Nhà hát tuổi trẻ
9. Trên cả trời xanh Kịch Nguyễn Mạnh Tuấn  NSƯT Trần Ngọc Giàu Nhà hát Kịch Việt Nam
10. Điện thoại di động Kịch Nguyễn Quang Lập NSND Hoàng Dũng Nhà hát Kịch Hà nội
11. Bản hùng ca linh thiêng Kịch Xuân Đức Cao Hạnh NSND Doãn Hoàng Giang Đoàn Kịch nói quân đội
12. Ông Bà Vú Kịch Vương Huyền Cơ Hữu Lộc Công ty TNHH Nụ cười mới
13. Dòng nhớ Kịch Ngô Phạm -Hạnh Thúy  Ngô Phạm Hạnh Thúy Công ty cổ phần dịch vụ truyền thông quảng cáo Sài Gòn phẳng
14. Mảnh gương nhân sự Chèo Nguyễn Đình Nghị Hà Quốc Minh Nhà hát Chèo Việt Nam
15. Hùng ca Bạch Đằng Giang Chèo Nguyễn Khắc Phục  NSND Doãn Hoàng Giang Đoàn Nghệ thuật tổng cục hậu cần
16. Danh chiếm bảng vàng Chèo Trần Đình Ngôn  NSND Bùi Đắc Sừ Đoàn Nghệ thuật Chèo, Ca Múa Nhạc

Bắc Giang

17. Ngọc Hân Công chúa Chèo Cố Tác giả Lưu Quang Vũ NSƯT Trịnh Thúy Mùi Nhà hát Chèo Hà nội
18. Bát Nàn tướng quân Chèo Hà Văn Cầu  NSND Doãn Hoàng Giang Nhà hát Chèo Thái Bình
19. Chí sĩ Trần Cao Vân Tuồng Lê Duy Hạnh Trương Tuấn Hải Nhà hát truyền thống Cung đình Huế
20. Thời con gái đã xa Dân ca Bài chòi Nguyễn Thu Phương NSƯT Hoài Huệ Đoàn ca kịch Bài Chòi Bình Định
21. Sóng dậy Lê Triều Tuồng Nguyễn Sĩ Chức NSND Ngọc Phương Nhà hát Nghệ thuật truyền thông Khánh Hòa
22. Dời đô Tuồng Lê Duy Hạnh – Phạm Ngọc Sơn           Cao Đình Liên Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh

 III. GIẢI CHO ẤN PHẨM, SÁCH NGHIÊN CỨU – LÝ LUẬN. 

 1. Giải A: (Kèm theo 7.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Đào Tấn Vũ Ngọc Liễn Bình Định

2. Giải B: (Kèm theo 5.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Chầu đôi Trúc Tôn Phạm Phú Tiết Bình Định
2 Cuốn theo kịch trường Cố NSƯT Vũ Hà Hà nội
3 Kịch nói TP. HCM – Một chặng đường lịch sử Nguyễn Văn Thành Hà nội

3. Giải C: (Kèm theo 4.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Mỹ thuật Chèo truyền thống NSƯT Dân Quốc Hà nội
2. Lịch sử Cải lương Tuấn Giang Hà nội
3. Mấy vấn đề công chúng của Nghệ thuật Sân khấu Nguyễn Phan Thọ Hà nội
4. Tính dân tộc trong Kịch nói VN Hà Diệp Hà nội

      4. Giải Khuyến khích: (Kèm theo 3.000.000 đồng cho mỗi giải)

TT TÊN ẤN PHẨM  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Nghệ thuật Múa Rối cổ truyền đất Thăng Long Văn Học Hà nội

 

Danh sách Khen thưởng những Kịch bản Sân khấu năm 2009

I. Không có giải A

II. Giải B:(Kèm theo mỗi giải 15.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Giai nhân và Anh hùng Chu Thơm Hà nội
2. Cờ chuẩn Điện Biên Lê Quý Hiền Hà nội

III. Giải C: (Kèm theo mõi giải 12.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Kẻ sĩ thời loạn Bùi Vũ Minh Hà nội
2 Vua hai ngôi (Kịch bản Cải lương) Hà Nam Quang An Giang
3 Vua điên (Kịch bản Tuồng) Đoàn Thanh Tâm Bình Định

 IV. Giải Khuyến khích: (Kèm theo mỗi giải 7.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN  TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Lý Thái Tổ dời đô Đăng Thanh Ninh Bình
2. Thuở ấy một con người Hoài Giao Hà nội
3 Lịch sử có thể đã khác Triệu Trung Kiên Hà nội
4 Góc khuất đời người Vũ Hải Hà nội
5 Người ở lầu son (Kịch bản Chèo) Trần Đình Ngôn Hà nội
6 Lời thề Thanh Hà Đồng Tháp

 V. Giải của Hội đồng Nghệ thuật. (Kèm theo mỗi giải 7.000.000 đồng)

TT TÊN KỊCH BẢN TÁC GIẢ ĐỊA PHƯƠNG
1. Giấc mộng Hồ Hoa (Kịch bản Tuồng) Mịch Quang Khánh Hòa

Kết quả Đại hội đại biểu Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam lần thứ VII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam diễn ra từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 12 năm 2009…
Thông tin về Đại biểu:
1. Tổng số Đại biểu chính thức: 511

2. Đại biểu dự bị: 95

3. Tổng số Đại biểu là Đảng viên: 279

4. Đại biểu là Diễn viên: 196

5. Đại biểu là Quản lý:83 đại biểu

6. Đại biểu có trình độ Đại học và trên Đại học:108

7. Đại biểu là Tác giả:55 đại biểu

8. Đại biểu là nhà Lý Luận-Phê bình:13 đại biểu

9. Đại biểu là Đạo diễn: 74 đại biểu

10. Đại biểu là NSUT:151 đại biểu

11. Đại biểu là NSND: 19 đại biểu

12. Đại biểu là nam: 331 đại biểu

13. Đại biểu là nữ: 181 nữ

14. Đại biểu cao tuổi nhất là Nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Tiếp – sinh năm 1924, Nhà hát Cải lương VN.

15. Đại biểu trẻ tuổi nhất: Nghệ sĩ Quế Trân – sinh năm 1981 – Hội SK Tp. Hồ Chí Minh

Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam khóa VII
TT
Họ và tên

1
NSND Lê Tiến Thọ
Chủ tịch Hội
2
NSUT Ngô Đặng Hồng Vân

3
NSUT Giang Mạnh Hà

4
NSUT Lê Đại Chức
Phó Chủ tịch Hội
5
NSND Lê Hùng
Phó Chủ tịch Hội
6
NSUT Trần Ngọc Giàu

7
Nhà viết kịch Lê Duy Hạnh
Phó Chủ tịch Hội
8
NSND Lê Khanh

9
NSUT Nguyễn Ngọc Bình

10
NSND Doãn Hoàng Giang

11
Nhà viết kịch Nguyễn Đăng Chương

12
Đạo diễn Nguyễn Văn Bộ

13
NSND Trần Đình Sanh
Trưởng Ban Kiểm tra
14
NSND Hoàng Dũng

15
Huỳnh Khánh

16
Nhà văn Chu Lai

17
Đạo diễn Trần Minh Ngọc

18
NSND Nguyễn Thị Hoà Bình

19
NSND Nguyễn Trọng Khôi

20
NSUT Trần Nhượng

21
NSND Bùi Đắc Sừ

Đại hội đại biểu Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam lần thứ VII

Đại hội lần thứ VII – Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày (8 và 9/12/2009). Hơn 500 đại biểu đại diện cho 2.500 hội viên Hội Nghệ sỹ sân khấu trong cả nước cùng hội tụ về Thủ đô. Cùng với việc nhìn nhận lại những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ 2004 – 2009, nhiều vấn đề “nóng” cần giải quyết để phát triển nền sân khấu nước nhà trong thời kỳ tới được các đại biểu tham gia đại hội bàn luận sôi nổi.

Phát triển nền sân khấu Việt Nam
Cần đổi mới cả lượng và chất

Làm thế nào để khán giả đến với sân khấu nhiều hơn là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm nhất tạiĐại hội lần thứ VII – Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội
Theo đạo diễn Lê Hoàng, khán giả hiện giờ có quá nhiều sự lựa chọn, họ không còn mặn mà nhiều đối với sân khấu như thời kỳ hoàng kim trước kia nữa. Trong khi đó, thay vì đổi mới mình để phù hợp với khán giả, thì sân khấu Việt Nam hiện nay vẫn đi theo một lối mòn về kịch bản, cách dàn dựng từ nửa thế kỷ trước. Vì thế, trước hết, cần phải đổi mới quan niệm về khán giả và cách thức phục vụ khán giả.

Đạo diễn Lê Hoàng cho rằng: “Trước khi làm vở phải tìm được đối tượng chúng ta phục vụ. Chúng ta đừng đổ lỗi cho khán giả, vì tại sao khán giả TP. Hồ Chí Minh có hàng nghìn điểm vui chơi mà họ vẫn đến sân khấu. Thử làm một vở hay xem, sẽ chật kín khán giả. Như vậy, sân khấu phải đổi mới bắt đầu từ khâu viết kịch bản, và những người lãnh đạo phải chọn được những kịch bản hay, hợp với diễn viên, đơn vị của mình”.

Nghệ sĩ Lâm Quang Tèo – Thường trực Hội đồng nghệ thuật của Công ty cổ phần đầu tư giải trí Phước Sang (TP. Hồ Chí Minh) cũng cho rằng: Hãy để khán giả quyết định sân khấu phải làm gì, chứ không phải ngược lại.

Sự thiếu định hướng trong quản lý văn hóa là điều khiến khán giả ít đến với sân khấu – Đó là ý kiến của nghệ sĩ Nhật Minh – Giám đốc Nhà hát cải lương Hà Nội. Ông Nhật Minh khẳng định: “Không phải tại sân khấu xuống cấp, không phải tại các đoàn kém, vì tất cả mọi thứ đều khá hơn trước, hay hơn trước, kể cả phương tiện, mọi thứ hỗ trợ cho sân khấu hơn trước rất nhiều. Người ta được xem thoải mái phim Hàn Quốc, Trung Quốc thì họ còn đến nhà hát làm gì. Như ở Trung Quốc, họ qui định có giờ chiếu phim ngoại, chứ không triền miên như ta. Hiện nay ở ta có những phim không xem được vì thiếu sự kiểm duyệt, định hướng…”.

Theo ý kiến của NSƯT Trần Minh Ngọc – Phó Chủ tịch Hội Sân khấu TP. HCM, một trong những điều làm nên sức hấp dẫn của sân khấu là sự phong phú về hình thức thể hiện. Tuy nhiên, ông cho rằng, cần thẳng thắn nhìn nhận nguyên nhân của tình trạng sân khấu hiện nay chưa thu hút được khán giả là do tư duy của nhiều tác giả sân khấu vẫn mang nặng tính giáo điều, tính bác học, trong khi đó lại thiếu đi yếu tố của đời thường, của cuộc sống hiện tại.
“Ở các nước thì tác giả sân khấu phải là nhà văn. Yếu tố đầu tiên để làm nên một tác phẩm là kịch bản, mà kịch bản phải được các nhà văn thể hiện. Vì tính chất của sân khấu ngoài tình tiết còn có tính văn học, nhân văn đi vào lòng người. Còn ở ta, chất văn học hiện nay còn yếu, nhất là trong ca kịch” – NSƯT Trần Minh Ngọc nêu ra.

>> Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành nhiệm kỳ 2009-2014 với 21 thành viên. NSND, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Lê Tiến Thọ được bầu làm Chủ tịch Hội; 3 Phó Chủ tịch là: Nhà viết kịch Lê Duy Hạnh, NSND Lê Hùng và NSƯT Lê Chức.
NSND Trần Tiến hoan nghênh các sân khấu thể nghiệm và cho rằng cần phải mở rộng “sân chơi” này ra, chứ không bó gọn ở một nơi nào đó. Vì sân khấu thể nghiệm là dành cho giới trẻ. Sân khấu phải đổi mới theo thị hiếu của khán giả trẻ. Hình thức như thế nào còn phụ thuộc vào người làm. Nên làm thường xuyên, hàng năm chứ đừng làm một đợt rồi thôi.

Tại đại hội, nhiều đại biểu cũng nhất trí rằng: Trong tương lai, để phát triển, nền sân khấu Việt Nam sẽ phải có một sự đổi mới nhất định cả về lượng và chất. Theo NSND Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL, sân khấu Việt Nam cần phải được xã hội hóa mạnh mẽ và có sự đầu tư để xây dựng thương hiệu của sân khấu Việt Nam. Có như thế, sân khấu Việt Nam mới phát triển bền vững trong tương lai./.
Mai Hồng – Mai Lan

Đoàn chèo Hải Phòng ra mắt vở diễn mới

Đoàn chèo HP vừa ra mắt khán giả vở diễn mới “Những đứa con oan nghiệt” của tác giả NSND Doãn Hoàng Giang; đạo diễn NSND Xuân Huyền; âm nhạc Hạnh Nhân; chỉ đạo nghệ thuật Hoàng Mai.
Vở diễn “Những đứa con oan nghiệt” được bắt đầu với câu chuyện tướng cướp Tư Chớp bí mật đánh tráo đứa con ruột của mình lấy con người thầy đồ với mong muốn mình sẽ có một đứa con ham học, sáng đường công danh sự nghiệp. Nhưng Đức – đứa con được Tư Chớp nâng niu, hy vọng lớn lên vẫn trở thành một kẻ độc ác, bất nhân, mang bản chất của một kẻ cướp liều lĩnh. Nhân – con ruột của Tư Chớp – sống trong sự nuôi dạy nghiêm cấm của thầy đồ trở thành một chàng trai thông minh, giàu lòng nhân áiiiiCả Nhân – Đức và Long – con trưởng của Tư Chớp đều đem lòng yêu mến Hạnh – cô thôn nữ xinh đẹp, dịu dàng. Nhân đỗ Trạng nguyên, muốn xin cưới Hạnh làm vợ; ghen ghét và hũng hãn, Long giết chết Nhân – người em ruột của mình mà không hay biết.
“Những đứa con oan nghiệt” là một tác phẩm sân khấu có tính giáo dục sâu sắc, với triết lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” môi trường sống và giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.Sự nuôi dạy bằng tình yêu và lòng nhân hậu là phương pháp tốt nhất để mỗi con người trưởng thành có phẩm chất và tâm hồn cao đẹp./.
Administrator Account