Âm vang về nguồn

          Có lẽ, nên bắt đầu bài viết này từ câu nói: “Nếu tôi có chết, tôi cũng trở thành “ma Chèo”!”– một câu nói thực sự ám ảnh – trích lời Giáo sư Trần Bảng trong cuộc trò chuyện sáng ngày 20 tháng Chạp năm 2016 tại buổi gặp gỡ cuối năm dành cho nghệ sĩ, cán bộ đã nghỉ hưu được tổ chức thường niên vào dịp áp Tết của Nhà hát Chèo Việt Nam.

IMG_6558

(Giáo sư Trần Bảng)

         Phát biểu của Giáo sư Trần Bảng thật ngắn nhưng đã nói hộ cả tâm tư nhiều người. Nhạc sĩ – NSƯT Bùi Đức Hạnh thì trăn trở đối với vấn đề “trả nghệ thuật Chèo về không gian làng quê”. Đành rằng quá rõ, Chèo sinh ra ở làng quê nhưng không vì thế, cứ về quê Chèo mới có đất sống. Vả lại trình độ cảm thụ nghệ thuật luôn luôn bao giờ cũng tương ứng với trình độ nhận thức. Con người thời hiện đại dù là ai nếu còn thẩm mĩ chân chính thì dẫu ở thị thành cũng vẫn vào rạp để thưởng thức nghệ thuật, thụ hưởng điều kiện vật chất hiện đại nhưng tái giữ được không gian nơi nó tồn tại và ra đời. Khác NSƯT Bùi Đức Hạnh, Nguyên Giám đốc Vũ Đình Quân lại quan tâm tới vấn đề tổ chức. Cá nhân ông bày tỏ tin tưởng vào Ban lãnh đạo đương nhiệm. Còn nghệ sĩ tiền bối Duy Đính thì thương yêu dặn dò các em học sinh không lãng phí sức khỏe, chú ý chăm chút nhan sắc, giọng hát. Các em cần nhớ rằng, giọng hát – nhan sắc là phương tiện của biểu hiện nghệ thuật. NSND Diễm Lộc tuy không nói trước tập thể nhưng bà ngồi dưới hết sức nhiệt thành tâm tình với diễn viên trẻ kinh nghiệm diễn xuất của mình. Muốn diễn giỏi trên sân khấu nhất định phải rèn rũa làm sao tới mức đủ “độ”, không thiếu hụt lại càng không nên vượt quá “ngưỡng” tính cách mình nhập vai…Cứ như vậy, nhiều câu chuyện, nhiều tâm tư cả một năm đọng lại mà cảm thấy khoảng thời gian nửa ngày quá ngắn ngủi để nói! Nhưng đã chạm tới nghề thì nói biết đến bao giờ cho đủ?! Bữa tiệc cuối năm, “đủ” ở đây có chăng là  đủ đầy tình cảm giữa thầy và trò; giữa anh em đồng nghiệp gắn bó cùng nhau. Nhịp sống xô bồ hối hả hiện nay, cứ ngày 20 tháng Chạp, ở Nhà hát Chèo Việt Nam bây giờ, lúc này và ngày mai, vẫn mãi giữ truyền thống chân quý ấy!

          Trở lại câu nói của GS Trần Bảng. Thực ra, với một nhà lý luận gạo cội như ông thì chuyện “ma” thuộc về duy tâm, không thể tồn tại trong ý thức khoa học duy vật. Câu nói đó trước hết đơn giản hiểu như cách diễn đạt gần gũi, thân thuộc để gửi gắm toàn bộ niềm tin và tình yêu đối với nghệ thuật Chèo. Sống vì Chèo, chết đi cũng vẫn ở trong Chèo. Chèo đã hóa thành linh hồn, nguyên khí. Thực thể con người không ai cưỡng lại được quy luật hữu hạn nhưng nguyên khí thì vẫn mãi còn, không bao giờ mất. Và “ma Chèo” ở đây, không gì khác ngoài nguyên khí vô hình mà giáo sư đã vận dụng thành quả từ vật lý – y học; chứng minh ở đó, luôn chứa đựng khả năng tái sinh sức mạnh, có thể tiếp sức, khơi dậy năng lượng sáng tạo nơi đời sống tinh thần những ai tâm thành, chung thủy với con đường khẳng định chân lý sinh tồn của tinh hoa nghệ thuật truyền thống!

          “Ma Chèo” sau nữa nếu hiểu từ góc độ  văn hóa – đạo đức, với uy tín,  nhân cách của người thầy, thầy Trần Bảng đã ân cần, độ lượng nhắc nhở lớp lớp thế hệ học trò bài học “tiên học lễ, hậu học văn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”… “Làm nghề” quan trọng, nhưng “làm người” phải đặt lên trước hết. Nhớ ơn tiên tổ rồi mới đến việc, làm thế nào để xứng đáng với tổ tiên, âu cũng là mong mỏi mà nếu chẳng may một ngày thầy về với các cụ thì thầy vẫn mãi dõi theo, Chèo ở đâu, thầy ở đó!

          Nói lại về nguồn cội nghi lễ ngày Tết, xin lược trích sau đây vài điều sơ giản. Ai cũng biết rằng trên thế giới, nhiều quốc gia ăn Tết “tây” – tết Dương lịch, một số nước khác trong đó có Việt Nam ăn Tết “ta” – tết Âm lịch hay còn gọi là tết Nguyên đán. Từ xưa người Việt Nam coi tết Nguyên đán là một trong những dịp lễ truyền thống quan trọng nhất của năm. Nguyên nghĩa của từ “tết” là “tiết”. Sở dĩ  vì đất nước ta thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, xuất phát từ nhu cầu sản xuất, cha ông đã phân chia thời gian trong một năm thành những “tiết” và ứng với mỗi “tiết” có khắc “giao thời”. Trong những “tiết” ấy thì tiết Nguyên đán (bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 Âm lịch) khởi đầu một chu kì canh tác, gieo trồng, được chọn làm dịp lễ-  sau này dân gian thường gọi chệch bằng tên: tết Nguyên đán.

          Dân tộc Việt bắt đầu ăn Tết từ khi nào tới nay chưa có tài liệu xác định chính xác. Tuy nhiên, tìm hiểu truyền thuyết và lịch sử, vào khoảng cuối thiên niên kỉ thứ ba trước Công nguyên, thủy tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương Lộc Tục sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lên ngôi vua kết hôn cùng Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở thành trăm người con. Người con trưởng trở thành Vua Hùng. Hùng Vương có tất cả 18 đời. Đến đời thứ 6, người con trai thứ 18 của Vua Hùng mang tên Lang Liêu đã làm bánh chưng bánh giầy để dâng lên cúng thờ tiên tổ, bày tỏ tấm lòng thành kính. Và Tết Việt Nam cho rằng, có gốc rễ từ đó.

          Theo lịch sử, Tết nước ta sớm hình thành như một nét văn hoá mang bản sắc riêng của người Việt. Ý niệm Tết là dịp hướng về cội nguồn từ thuở sơ khai đã ăn sâu vào tiềm thức hết thế hệ này sang thế hệ khác. Một trong những phong tục đẹp đẽ nhất ngày Tết còn gìn giữ được đến nay là tri ân tổ tiên. Dân gian truyền tụng câu “mồng Một tết cha, mồng Hai tết chú, mồng Ba tết thầy”, ẩn ý ghi nhớ công đức sinh thành dưỡng dục của bậc tiền nhân bằng cả tấm lòng biết ơn sâu sắc.

          Trở về với Nhà hát Chèo Việt Nam, đã từ lâu thành lệ, cứ vào cuối năm, dù bận rộn thế nào Ban Giám đốc cũng sắp xếp tổ chức một buổi gặp gỡ như thế. Buổi tụ họp các bậc lão thành làm nghề là Tết nghề, tết dành cho những ai từng công tác tại nhà hát đầu ngành. Phong tục ngày Tết nghề,trên ban thờ tổ tại rạp có mâm lễ cùng tuần hương khẩn cầu linh hồn các cụ; trên sân khấu có chương trình nghệ thuật chọn lọc kính trình thế hệ đi trước thành quả một năm lao động phấn đấu.  Mỗi năm mỗi khác, các thầy vui mừng vì sự tiến bộ của con cháu, còn cháu con lại thấy an lòng vì mình lại như về nhà, được nương tựa, sẻ chia mọi khó khăn vất vả. Có thể nói, nếu như Chèo – một trong những biểu trưng cho cái đẹp của nghệ thuật truyền thống thì Tết Chèo ở Nhà hát Chèo Việt Nam là “văn hóa trong văn hóa”, thấm đượm yêu thương, ân tình!

          Như thế, khi cái tên Nhà hát Chèo Việt Nam vẫn xướng lên thì cũng có nghĩa nghệ thuật Chèo không thể mất đi. Khi nghệ thuật Chèo không mất đi, Tết Chèo chắc chắn vẫn còn. Buổi gặp mặt hôm nay đã mãi vắng nghệ sĩ nào đó, sang năm có thể lại vắng thêm nhưng rồi sẽ lại được bổ sung một cây đa tỏa bóng. Nguyên khí nghề nghiệp mà GS Trần Bảng đã nói – tích tụ theo bề dày lịch sử bởi những bóng “ma Chèo” – dần trở thành khối năng lượng lớn. Nó tựu chung lại ở ý thức nghề nghiệp, tình yêu. Tình yêu, ý thức nghề nghiệp lớn đến đâu sẽ quyết định đạo đức, tinh thần xả thân vì nghề đến đó! Đấy là dư âm vang vọng khó quên trên chuyến hành hương về nguồn dịp Tết 2017 tại Nhà hát Chèo Việt Nam.

          Nghĩa từ vựng, “nguyên” chỉ sự khởi đầu, “đán” là buổi sớm mai. Ghép lại, tết Nguyên đán mang nét nghĩa: thời điểm khởi đầu niềm tin niềm hi vọng. Với truyền thống “văn hóa trong văn hóa”, “uống nước nhớ nguồn”; với sự tiếp sức mạnh mẽ của thế hệ cha ông, tin rằng một mùa xuân mới tràn đầy sức sống hơn, đẹp hơn, sẽ ở lại với Nhà hát Chèo Việt Nam nói riêng và, nghệ thuật Chèo nói chung!

         Một số hình ảnh tại buổi gặp mặt các thế hệ diễn viên Nhà hát nhân dịp Xuân Đinh Dậu 2017:

IMG_6488

IMG_6566IMG_6574IMG_6577

IMG_6542IMG_6482IMG_6504IMG_6538Th.S Ninh Thanh Hà

(Phòng Nghệ thuật)

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Chương trình nghệ thuật Chào năm mới 2017

Đây là chương trình nghệ thuật tổng hợp được xây dựng từ những tiết mục tiêu biểu của hầu hết các đơn vị nghệ thuật, cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ VHTTDL với nhiều bộ môn nghệ thuật thuộc hai loại hình nghệ thuật Sân khấu và Ca múa nhạc do Bộ VHTTDL tổ chức. Chương trình sẽ diễn ra vào 20h00 các ngày 21, 22, 23.12.2016 tại Nhà hát Lớn, số 1 Tràng Tiền, Hà Nội.

Chương trình do Cục Nghệ thuật biểu diễn, Văn phòng Bộ VHTTDL và Nhà hát Lớn Hà Nội chủ trì thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện cùng các trợ lý: NSND Ngô Hoàng Quân; NSND Nguyễn Minh Thông; NSND Quang Vinh.

Chương trình sẽ huy động lực lượng nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc công, diễn viên của: Học viện Âm nhạc Quốc gia VN, Học viện Âm nhạc TP.HCM, Học viện Âm nhạc Huế, Nhà hát Ca múa nhạc VN, Nhà hát Nhạc vũ kịch VN, Nhà hát Nghệ thuật đương đại VN, Dàn nhạc Giao hưởng VN, Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc, Nhà hát Chèo VN, Nhà hát Tuồng VN, Nhà hát Cải lương VN, Nhà hát Múa rối VN.

Thiết kế sân khấu của chương trình sẽ được làm mới và có hệ thống màn hình LED thay thế cho phông phía sau và hai bên cánh gà. Các nhà thiết kế sẽ sử dụng phông mềm, máy chiếu để thay đổi không gian, chuyển cảnh, đạo cụ, sắp xếp đội hình nhạc công, nghệ sĩ cho các tiết mục sử dụng nhiều nhạc cụ, diễn viên.

Chương trình có tổng thời lượng khoảng 120 phút với các phần: Khai từ và 2 phần nội dung chính. Màn khai từ là trình diễn của Dàn nhạc Giao hưởng VN với bản giao hưởng “Người về đem tới ngày vui” (âm nhạc: Văn Cao – Trọng Bằng, chỉ huy: Nhạc trưởng Honna Tetsuji). Nội dung Phần một là các tiết mục nghệ thuật truyền thống đặc sắc. Phần hai là các tác phẩm nghệ thuật ca múa nhạc phát triển từ chất liệu dân gian, truyền thống cùng một số tác phẩm cổ điển châu Âu.

Sẽ có những tiết mục dàn dựng đặc biệt như nhạc cảnh Cung chúc tân xuân với sự phối hợp biểu diễn giữa các làn điệu (Chèo) Sử xuân và Tứ quý cùng Hề mồi, Hề gậy, Múa cờ và Ông già cõng vợ đi xem hội (Tuồng) do nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam và Nhà hát Tuồng Việt Nam phối hợp biểu diễn. Có rất nhiều ca khúc đơn ca ở nhiều thể loại được các nghệ sĩ, ca sĩ tên tuổi của các đơn vị nghệ thuật trình diễn như: Bài vọng cổ tôi yêu (NSND Vương Hà), Gọi Anh (NSƯT Mã Minh Huệ và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc”, hát chầu văn Huế trọn nghĩa tình (ca sĩ Mai Chung và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Mẹ yêu con (ca sĩ Anh Thơ và Dàn nhạc Giao hưởng dân tộc Học viện Âm nhạc Quốc gia VN thực hiện), Tổ quốc gọi mình (NSƯT Tạ Minh Tâm và tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN), Hòa tấu Ngư phủ Triều khúc (ca sĩ Đức Liên và Dàn nhạc Nhà hát Ca múa nhạc VN), Thời hoa đỏ (NSND Thái Bảo trên nền tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN)…

Các tiết mục song ca và biểu diễn tập thể: Múa rối Vũ điệu tâm linh (Nhà hát Múa rối VN), Múa những bông đỏ của rừng (tốp múa nữ Nhà hát Ca múa nhạc Dân gian Việt Bắc), Tình ca mùa xuân (Song ca nam nữ và tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Lời ru của rừng (tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN), Acapella Dòng sông thương nhớ (song ca cùng dàn ca sĩ Nhà hát Ca múa nhạc VN), Song tấu sáo trúc Cánh chim tự do (Nhà hát Nghệ thuật đương đại VN), Những ánh trăng đỏ (tốp múa Nhà hát Ca múa nhạc VN), Ballet Những đóa hồng (tốp múa Nhà hát Nhạc vũ kịch VN).

Quy tụ lực lượng tác giả, đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ và nghệ sĩ biểu diễn đều là những đại diện tiêu biểu, nòng cốt của hai loại hình nghệ thuật sân khấu và ca múa nhạc, chương trình nghệ thuật chào năm mới 2017 sẽ mang tới cho khán giả thủ đô một chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp được dàn dựng công phu, thiết kế quy mô và một không gian thưởng thức nghệ thuật tinh tế, sang trọng.

Đào Anh; ảnh: Trần Huấn

(Trích đăng lại tin từ Báo văn hóa điện tử)

 

Nhà hát lớn Hà Nội rộng cửa đón các đơn vị nghệ thuật: Nhà hát Chèo Việt Nam với vở “Bắc Lệ đền thiêng”

VH – Đêm thứ hai trong đợt diễn thứ tư trong khuôn khổ dự án Đưa các chương trình nghệ thuật chất lượng cao vào Nhà hát Lớn một lần nữa khán giả Thủ đô được thưởng thức một không gian sân khấu chèo ấn tượng với vở Bắc Lệ đền thiêng. Có thể nói đây là vở diễn phá cách táo bạo của Nhà hát Chèo Việt Nam trên con đường tự làm mới mình.

imgm3388

Cảnh trong vở “Bắc Lệ đền thiêng”

“Bắc Lệ đền thiêng” xoay quanh câu chuyện gìn giữ di sản văn hóa của ông cha – tập tục thờ Mẫu và hát văn ở ngôi đền Bắc Lệ trên mảnh đất vùng biên ải Lạng Sơn trong những năm thực dân Pháp đô hộ. Kẻ xâm lược bắt người dân phá đền, cải đạo hòng phá hoại văn hóa truyền thống ngàn đời nơi đây. Nhưng làm sao phá nổi khi lời ca, tiếng hát và niềm thành kính vốn đã ăn sâu trong tâm trí người dân Việt? Người dân miền biên ải đã liên kết với nghĩa quân của thủ lĩnh Cai Kinh chờ ngày nhất tề giết giặc. Kế hoạch bại lộ, giặc đàn áp dã man nghĩa quân, bắt bà con dân làng lựa chọn hoặc phá đền, hoặc phải chết. Và dân làng đã chọn sự hy sinh.

Rất ngạc nhiên khi NSƯT Triệu Trung Kiên lại được đích thân Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam đặt hàng viết kịch bản. Đây là một sản phẩm được viết từ Chợ kịch trên mạng do anh và một nhóm tác giả lập nên. Chủ đề tư tưởng xuyên suốt mà tác giả muốn gửi gắm là đất nước có thể bị xâm lăng, bị chiếm đóng nhưng bản sắc văn hóa Việt, tâm hồn Việt không bao giờ bị khuất phục. Việc tôn vinh bảo vệ nghi lễ hầu đồng, nghệ thuật hát văn chỉ là cái cớ mà trong sâu thẳm là việc bảo vệ bản sắc văn hóa, và cao hơn cả là bảo vệ Tổ quốc ngàn năm văn hiến.

imgm3491

Dùng phương tiện hát chèo để tôn vinh tiếng hát chầu văn mà không làm mất đi những đặc trưng của nghệ thuật chèo là một thử nghiệm thành công đáng ghi nhận của vở chèo Bắc Lệ đền thiêng. Qua vở diễn, ê kíp sáng tạo muốn gửi gắm những quan điểm làm chèo với tư duy rất mới. Một sân khấu được dàn dựng công phu, kỹ lưỡng với những cảnh diễn múa hát đông người. Một vở diễn đề tài cận đại nhưng rõ ràng vẫn phảng phất những mô típ nhân vật từ truyền thống như chánh tổng, lý trưởng, bên cạnh đó sự xuất hiện của những nhân vật mới trong chèo như nhân vật “ông Tây” cũng được xử lý hát múa rất khéo. Những tràng vỗ tay của khán giả khi được chứng kiến cảnh chàng trung úy Pháp hát chầu văn rất… ngọt. Diễn tả tình ái trên sân khấu chèo là điều vô cùng khó với sân khấu chèo nhưng chỉ cần một điệu múa và một giai điệu chèo cổ người xem đã “thấy” được phần nào mà không hề bị thô giữa Thị Ngọ và viên quan công sứ Pháp.

Cảnh kết là một trong những cảnh diễn thành công nhất của vở khi giặc Pháp ra lệnh đàn áp việc hát múa hầu đồng hay phá bỏ ngôi đền, dân làng nhất tề theo bà đền chọn việc giữ đền. Cảnh múa nhịp nhàng uyển chuyển xen trong tiếng hát văn thỉnh thoảng bị ngắt quãng khi các nhân vật bị giặc bắn chết dần. Hình ảnh về cái chết tập thể đã gây những xúc cảm rất mạnh đối với người xem bởi cách xử lý đậm chất bi hùng. Và đặc biệt giữa sự mất mát, đau thương và khốc liệt là sự sống sót duy nhất của một cháu bé. Lời ca được cất lên non nớt nhưng cũng thể hiện ý chí, sức sống mãnh liệt của người dân Việt. Từng lớp người ngã xuống nhưng những lớp thế hệ tiếp nối lại sẵn sàng đứng lên nối tiếp sứ mệnh của cha ông để văn hóa Việt nói riêng và dân tộc Việt mãi mãi trường tồn.

Thúy Hiền

Ảnh: Trần Huấn

(Trích đăng lại tin từ Báo văn hóa điện tử)

 

Phim kỷ niệm 65 năm thành lập Nhà hát Chèo Việt Nam

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm thành lập Nhà hát Chèo Việt Nam (1951 – 2016), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới khán giả cuốn phim ghi lại các buổi phỏng vấn các thế hệ nghệ sỹ để các bạn có cái nhìn tổng quan nhất về quá trình sưu tập, chỉnh lý, cải biên các tích Chèo cổ của cha ông cũng như sáng tạo các vở diễn mới.

Tâm tư với nghiệp Chèo

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm thành lập Nhà hát Chèo Việt Nam (1951 – 2016), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách  “Tâm tư với nghiệp Chèo”.

Mỗi một trang trong cuốn sách là những hồi ức, những dấu ấn sâu sắc về một chặng đường lịch sử để thấy được sự thay đổi, sự bứt phá, kể cả sự chèo chống với những gian nan của thời cuộc và sự tin tưởng hướng tới tương lai mà chúng tôi đã ghi lại được từ các cuộc phỏng vấn các thế hệ lãnh đạo, diễn viên, cán bộ đã, đang công tác tại nhà hát Chèo Việt Nam trong 65 năm qua.

Trong quá trình biên tập, với tiêu chí để bạn đọc cảm thấy gần gũi như chính mình đang trực tiếp được tham gia vào cuộc nói chuyện do chúng tôi thực hiện nên khi biên tập, chúng tôi chỉ cắt các ý trùng lặp, không can thiệp vào “giọng văn”, cố gắng giữ lại văn phong nói của người được phỏng vấn.

Khó có cuốn sách nào có thể ghi lại đầy đủ tất cả những gương mặt đã đóng góp cho sự phát triển của Nhà hát Chèo Việt Nam trong 65 năm. Khuôn khổ cuốn sách có hạn, thời gian gấp rút nên chúng tôi không thể tránh khỏi những sơ suất. Ban biên tập mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành từ các độc giả để chúng tôi có thể chỉnh sửa và hoàn thiện hơn ở các ấn bản phẩm tiếp theo.

Ban biên tập

Một số nghệ sĩ Nhà hát tốt nghiệp các khoá đào tạo chuyên môn

Tháng 6 năm 2012, một số nghệ sĩ của Nhà hát đã tốt nghiệp các khoá đào tạo chuyên môn.
Tốt nghiệp chuyên ngành Biên đạo múa (Trường ĐHSK & ĐA HN) : NSƯT An Chinh.
Tốt nghiệp chuyên ngành Sáng tác âm nhạc – chỉ huy dàn nhạc (Trường ĐHSK & ĐA HN): NSƯT Phạm Văn Doanh, Đinh Huy Hưng, Nguyễn Duy Hòa.

Một số nghệ sĩ dự tuyển các khoá đào tạo chuyên môn

Mùa tuyển sinh năm 2011 của Trường ĐH Sân khấu & Điện ảnh, một số nghệ sĩ nhà hát Chèo VN đã trúng tuyển vào các chuyên ngành đào tạo, trong đó 02 nghệ sĩ trúng tuyển chuyên ngành Đạo diễn, một số nghệ sĩ trúng tuyển chuyên ngành diễn viên (bậc đại học).

Tập huấn vở diễn truyền thống “Xuý Vân”

Tháng 3 năm 2012, Nhà hát Chèo Việt Nam đã tổ chức tập huấn vở diễn Chèo truyền thống “Xuý Vân” cho cả hai đối tượng : diễn viên và nhạc công.
Chỉ đạo chung : Quyền giám đốc – Đạo diễn Hà Quốc Minh
Chịu trách nhiệm chương trình tập huấn : Đạo diễn Vũ Ngọc Minh
Các giảng viên : NSND Chu Văn Thức, NSƯT Diễm Lộc, NSƯT Hải Điệp, NSƯT Phúc Lợi, NSƯT Kiều Oanh, NSƯT Khắc Tư…

Nhà hát Chèo VN cử cán bộ tham gia bồi dưỡng chính trị

Tháng 6 năm 2012, Nhà hát Chèo Việt Nam đã cử
một số cán bộ đương chức và một số cán bộ nguồn theo học khoá bồi dưỡng chính trị ( trình
độ trung cấp) do Bộ VH, TT & DL tổ chức tại Trường Cán bộ Quản lý Văn hoá.
Danh sách cụ thể :
Phòng TCBD : Văn Khắc Bình
Phòng HCTH : Lê Huy Cương.
Phòng NT : Trần Đình Văn.
Đoàn NT 1 : Lê Mạnh Huấn, Nguyễn Quang Minh.
Đoàn NT 2 : Trần Tuấn Tài, Vũ Bá Dũng.