Vẫn chờ tác phẩm lý luận, phê bình đặc biệt xuất sắc

VH- Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương vừa tổ chức kỳ họp thứ Tư và Lễ trao tặng thưởng cho 28 tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2016-2017. Không có tác phẩm được trao tặng thưởng mức A, tặng thưởng của Hội đồng phản ánh đúng thực trạng của lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay.

Dự buổi lễ có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng; Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng cùng nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu… Đây là tặng thưởng của Ban Bí thư Trung ương Đảng dành cho các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật có chất lượng và các đơn vị có nhiều tác phẩm có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Kỳ xét tặng thưởng lần này dành cho các công trình ra đời trong 2 năm 2016-2017. Thường trực Hội đồng đã thành lập Ban Chỉ đạo Hội đồng xét tặng thưởng và các tiểu ban sơ tuyển với sự tham gia của các chuyên gia khoa học đầu ngành, văn nghệ sĩ có uy tín… để thẩm định. Hội đồng xét chọn đã nhận được 96 tác phẩm từ các cơ quan, đơn vị gửi về, trong đó có 57 bài viết, 36 cuốn sách, 3 chương trình phát thanh truyền hình đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện xét tặng.

Qua các vòng xét giải, Hội đồng đã quyết định tặng thưởng cho 28 tác phẩm, trong đó không có mức A; 10 tác phẩm được tặng thưởng mức B, 13 tác phẩm mức C, 5 tác phẩm mức Khuyến khích và 9 đơn vị có nhiều tác phẩm có đóng góp cho sự phát triển lý luận, phê bình VHNT. PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương cho biết: “Kết quả xét thưởng cũng phản ánh đúng thực trạng của lý luận, phê bình văn học hiện nay khi không có những tác phẩm đặc biệt xuất sắc, có sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống. Đó là lý do sau khi có sự cân nhắc kỹ lưỡng, Hội đồng quyết định không trao tặng thưởng mức A đối với các tác phẩm dự xét giải lần này”.

Tại kỳ họp thứ Tư của Hội đồng lý luận, phê bình VHNT TƯ, nhiều điểm sáng trong hoạt động của Hội đồng đã cho thấy hoạt động của Hội đồng đã bám sát thực tiễn, nắm bắt tình hình VHNT nói chung và đời sống lý luận, phê bình nói cung. Cụ thể, Hội đồng đã tổ chức thành công tọa đàm khoa học “Góp ý chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn” với sự tham gia của gần 60 đại biểu là các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà giáo có uy tín tại các trường đại học, cơ quan nghiên cứu, đại diện các cơ quan văn hóa, giáo dục ở TƯ và Hà Nội cùng Ban soạn thảo Chương trình. Hội đồng cũng đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học “Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật Cải lương ở VN (1919 – 2018) – Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển” tại TP HCM. Ngoài ra, trên cơ sở 61 đề cương của các tác giả trong cả nước gửi về bao gồm 48 đề cương sách, 13 đề cương bài viết, Hội đồng đã xét chọn, quyết định hỗ trợ triển khai 14 đề cương…

Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ VN cho rằng: “Năm tiểu ban thuộc Hội đồng hoạt động từng lĩnh vực khác nhau nhưng trước một hiện tượng hay một vấn đề nổi cộm của đời sống VHNT nói chung hay vấn đề lý luận, phê bình VHNT nói riêng thì các tiểu ban cũng nên lên tiếng, cầm cân nảy mực một cách thiết thực và đúng mực”. Sắp tới trên cơ sở đề xuất của các tiểu ban, Hội đồng lý luận, phê bình VHNT TƯ sẽ phê duyệt cho mỗi tiểu ban tổ chức ít nhất 1 tọa đàm khoa học. Để đẩy mạnh đời sống lý luận, phê bình VHNT, dư kiến Hội đồng lý luận phê bình VHNT TƯ cũng sẽ tổ chức những lớp bồi dưỡng dành cho đội ngũ các cây bút trẻ viết lý luận, phê bình VHNT trong cả nước. Đó là cơ sở để xây dựng và phát triển đội ngũ lý luận, phê bình VHNT ngày càng lớn mạnh, đủ sức cầm chiếc đũa chỉ huy cho dàn nhạc VHNT VN sống động và có những tác phẩm đỉnh cao. 

 PHÚC NGHỆ

Mê mẩn với 40 phác thảo tranh của danh họa Nguyễn Gia Trí

VH- Khai mạc sáng 26.6 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, triển lãm Những phác thảo tranh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã thu hút đông đảo công chúng mến mộ tài năng danh họa tới để chiêm ngưỡng 40 tư liệu phác thảo tranh của ông, hiện đang thuộc sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên đã tới dự.

Triển lãm được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của danh họa Nguyễn Gia Trí (1908 -2018), kỷ niệm 52 năm thành lập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (24.6.1966 – 24.6.2018) và đặc biệt, nhằm tôn vinh những đóng góp của danh họa đối với lịch sử phát triển mỹ thuật nước nhà. 40 tư liệu phác thảo tranh của danh họa có kích thước khác nhau và được thể hiện bằng nhiều chất liệu như bút bi, bút dạ, sơn dầu, màu nước, chì than, màu sáp… trên giấy; chia thành các tiểu đề về phong cảnh, nhân vật, chi tiết trang trí và đề tài lịch sử. Đây là một sưu tập quý mà Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM đã sưu tầm qua hai giai đoạn: năm 1991 và năm 2010.

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí là người đi đầu trong việc tìm tòi chất liệu tạo hình mới và được vinh danh bởi những đóng góp trí lực, những nỗ lực và cống hiến hết mình trong việc đưa “sơn ta” của mỹ nghệ truyền thống thành “sơn mài”, một chất liệu hội họa đặc trưng của dân tộc. Ông cũng là tác giả của hai Bảo vật quốc gia “Vườn xuân Trung Nam Bắc” và Bình phong “Thiếu nữ trong vườn” – “Phong cảnh”.

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí được Bộ Văn hóa chính thức công nhận là một trong mười họa sĩ đương đại có công trong việc xây dựng nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại (năm 1989) và được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (năm 2012).

Triển lãm diễn ra từ 26.6 đến 10.7, đánh dấu bước phát triển trong mối quan hệ hợp tác giữa Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.

AN TÂM

“Đói” phim hè cho thiếu nhi

VH-  Thiếu kịch bản hay, nên khi đã vào hè rồi các nhà làm phim truyền hình dành cho thiếu nhi mới giật mình: Phim cho các con thiếu trầm trọng!

Nếu những mùa hè trước, khán giả nhí có dịp tiếp cận với những bộ phim thiếu nhi ấn tượng, ngộ nghĩnh thì mùa hè năm nay các bộ phim mới rất ít, khi lên sóng lại chiếu theo kiểu nhỏ giọt. Thực trạng đáng buồn trên dẫn đến hiện nay các em tìm đến phim ngoại, những chương trình giải trí và phim ảnh không phù hợp với lứa tuổi.

Chia sẻ về nguyên nhân phim dành cho thiếu nhi thiếu trầm trọng, đại diện hãng phim TFS – một trong số những đơn vị hiếm hoi sản xuất các bộ phim cho các em nhỏ trong nhiều năm qua cho biết rất nhiều đạo diễn của hãng sẵn sàng làm phim “không công” cho thiếu nhi nhưng việc thiếu những kịch bản hay, hóm hỉnh, mang tính giáo dục cao, có chất lượng để dựng thành phim khiến các đạo diễn mỏi mòn chờ đời.

Thống kê cho thấy, số lượng kịch bản dạng này những năm qua gửi về các hãng phim chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhà văn Trần Thị Hồng Hạnh, tác giả của các phim thiếu nhi như Mùa hè sôi động, Xúc xắc mùa thu cho biết vì các em có nhiều hoàn cảnh và suy nghĩ rất khác với người lớn nên khó khăn lớn nhất khi viết kịch bản thiếu nhi là người viết phải “nhập vai” để hiểu tâm lí và tìm được tiếng nói chung với trẻ. Nếu không sống trong thế giới trẻ em thì dù có viết ra những kịch bản đọc thì rất hay nhưng không thể dựng phim được vì thực tế lăng kính của người lớn không phù hợp với tư duy trẻ nhỏ. Đạo diễn Nguyễn Minh Cao (từng làm nhiều phim thiếu nhi) thì cho rằng để có một kịch bản phim thiếu nhi, người viết phải đầu tư rất nhiều từ chất xám, đến trí tưởng tượng, tư duy sao cho hóm hỉnh để chinh phục các thiên thần nhỏ; đầu tư nhiều là thế nhưng hiện nhuận bút trả cho thể loại này chưa cao nên khó mà thu hút được những người có nghề tham gia viết lách. Hơn hết chuyện xin tài trợ, quảng cáo cho phim người lớn với các yếu tố “giật gân, câu khách” hiện nay đã vô cùng khó huống hồ phim chiếu cho các cháu coi, do đó làm phim thiếu nhi nếu không vì cái tâm, tình yêu thương con trẻ thì chẳng ai đảm nhận vì hầu như chuyện hòa vốn đã khó huống chi mơ đến có lời. Tương tự nữ đạo diễn Mỹ Khanh (từng thành công với phim truyền hình trẻ em Lục lạc huyền bí) cho biết làm phim thiếu nhi giống như một cuộc phiêu lưu, mà ở đó người lớn phải tìm được các “báu vật trong hành trình trở về tuổi thơ”. Ví dụ như “săn” được kịch bản hay, rồi đến diễn viên nhí diễn xuất tốt, cũng như đội ngũ ê kíp muốn làm một tác phẩm chỉn chu cho trẻ nhỏ… Qua đó chia sẻ thêm kinh nghiệm để phim của mình hấp dẫn, chị đã từng mang bản dựng chiếu cho con gái của mình và trẻ em hàng xóm xem để góp ý và chỉnh sửa bộ phim nhiều lần bởi không ai có thể đánh giá phim hay hoặc dở chính xác nhất bằng chính đối tượng công chúng mà tác phẩm hướng tới. Hiện một số đài truyền hình tỉnh có đầu tư về thể loại phim truyền hình về câu chuyện cổ tích, nội dung khuyên con người sống nên ăn hiền ở lành, mang tính giáo dục cũng như chân-thiện-mỹ, một số còn có phim thiếu nhi viễn tưởng (có phép thuật, mang nội dung phiêu lưu về quá khứ hay lạc vào truyện cổ tích…) nhưng số này vẫn chưa thỏa mãn được “cơn đói” phim thiếu nhi vốn dai dẳng và cần số lượng lẫn chất lượng nhiều hơn thế. Mặc khác nội dung cũng như lối diễn xuất của các diễn viên thường là không chuyên ở thể loại này vẫn chưa thật sự hấp dẫn, gần gũi trẻ em Việt. Từ đây đề xuất các nhà viết kịch bản hãy bắt đầu sáng tác kịch bản phim thiếu nhi từ những thứ đơn giản như nội dung xoay quanh các mối quan hệ giữa ông bà với con trẻ, tình bạn tình thân, tình thầy trò… chắc chắn sẽ dễ “thấm” và giúp các em học hỏi được nhiều hơn trong cách đối nhân xử thế, ứng xử xung quanh mình. Bên cạnh đó, các đạo diễn thành thật chia sẻ họ đang vô cùng nôn nóng và sẵn sàng làm phim thiếu nhi (nếu có kịch bản thật sự tốt) dù không cát xê cũng chấp nhận bởi nỗi sợ các em lớn lên sẽ quay lưng lại với phim Việt nếu cứ mãi để tình trạng “đói phim” như trên kéo dài thêm nữa.

 QUANG KHẢI

Nhà báo nữ viết sách “Siêu Nhân Mẹ không cô đơn”

VH- “Siêu Nhân Mẹ không cô đơn” là cuốn sách viết về chuyện yêu, cưới, bầu, sinh con, nuôi con của hai nhà báo nữ trẻ tuổi hiện làm việc tại TP.HCM: Nguyễn Thắm (Báo Thiếu Niên Tiền Phong), Cẩm Viên (Báo Mực Tím). Sách ra mắt đúng dịp Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6 và Ngày Gia đình Việt Nam 28.6.

Sách gồm 4 chương: Chồng già – vợ trẻ chưa hẳn là tiên, Những nhà bầu bí học, Nô tì mã số 24/7/365, Siêu Nhân Mẹ rối hơn canh hẹ. Bằng giọng văn dí dỏm, sinh động, chan chứa yêu thương, hai tác giả đã kể những câu chuyện gia đình vừa rất riêng vừa rất có thể là của chung nhiều phụ nữ: “lăn lộn” chụp ảnh cưới, bỡ ngỡ khi mang bầu, nổ não đặt tên con, đau đớn vượt cạn, ăn uống bất chấp để có sữa mẹ nuôi con, “bế tắc” trong khoản hát ru, trắng đêm khi con khóc, buồn vui theo mỗi bữa ăn, giấc ngủ…

Như nhiều Siêu Nhân Mẹ khác, các tác giả sống tranh thủ từng phút giây để vừa “cày” việc cơ quan vừa “bừa” việc nhà. Nhịp điệu hối hả đặc trưng của nghề báo hiển hiện khá rõ trong sách qua những câu chuyện về những lần mẹ đi công tác ngang dọc đất nước, đến cả vùng biển đảo xa xôi, về những ngày tháng mẹ hối hả viết tin bài ở tòa soạn mà lòng như lửa đốt vì con ở nhà ré khóc, là những đêm khuya khoắt khi cả nhà đã ngủ say, mẹ vẫn lách cách bên laptop để hoàn thành bài báo sáng mai kịp nộp tòa soạn,…

Ngoài những câu chuyện gia đình sinh động, dí dỏm, ẩn chứa những thông điệp ý nghĩa, sách còn có phần tư vấn ngắn gọn, dễ nhớ của bác sĩ Phạm Ngọc Bảo Trân và bác sĩ Trương Hữu Khanh về những điều cần lưu ý khi mang thai, sinh nở và chăm sóc trẻ nhỏ…

Sách do Saigonbooks ấn hành trên toàn quốc.

Trẻ em đang cần người kể chuyện

VH-  Những tác phẩm viết cho thanh thiếu niên của các tác giả trong nước ngày càng thiếu và yếu, nặng tính giáo huấn. Nguyên nhân này, theo TS Nguyễn Ngọc Minh, viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên thực sự rất khó. Có tác giả thích viết cho thanh thiếu niên nhưng lại sợ khi viết và bỗng tỉnh ra là mình đã lớn, thực sự làm người viết bị mắc kẹt và bối rối.

Văn chương viết về sự trưởng thành mang đến những cảm xúc đẹp đẽ để mỗi con người nhìn thấy mình, soi chiếu mình trong chân giá trị của sự tử tế, nhân văn. Sự đồng cảm với nhân vật là cách người viết chạm đến cảm xúc của người đọc. Cảm xúc ấy vừa là trải nghiệm cá nhân tác giả, vừa là việc hiểu biết tâm lý ở giai đoạn quan trọng nhất của con người. Tâm lý đó được biểu hiện một cách rõ ràng nhưng không khuôn mẫu và cần đủ sự bao dung, điềm tĩnh để thấu hiểu. Bởi vậy, dòng văn học này dễ khai thác nhưng để viết hay, chạm đến cảm xúc cũng không đơn giản.

Có những tác giả Việt Nam chạm đến cảm xúc của độc giả với các tác phẩm như Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Quân khu Nam Đồng (Nguyễn Bình Ca), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi)… Hay Nguyễn Nhật Ánh là người luôn gắn bó để chia sẻ niềm vui và cả nỗi đau cùng bạn đọc trong lứa tuổi trưởng thành. Nhưng tính ra thì số lượng này thực sự không nhiều. Chưa kể, những năm gần đây, tác phẩm viết cho thiếu nhi của các tác giả trong nước càng ngày càng yếu và nặng tính giáo huấn. Một phần lý do là viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên thực sự rất khó. Có tác giả khi viết luôn đứng trước nỗi lo sợ đánh mất đứa trẻ trong mình. Nhưng vào giai đoạn ấy, người ta không còn là trẻ con mà cũng chưa hẳn là người lớn.

Không chỉ vậy, sự phát triển của các loại hình giải trí nghe nhìn, thể loại văn học về sự trưởng thành cũng chịu nhiều tác động. Văn học cho thiếu nhi cần nhiều tưởng tượng, câu chuyện trong trẻo, hồn nhiên còn dòng văn học cho thanh thiếu niên đòi hỏi sự tiếp cận đời sống mới mẻ hơn nhưng cũng phải tinh tế hơn. “Đôi mắt” của người viết không chỉ quan sát mà còn cần tinh nhạy nhận ra những góc ẩn sâu trong quá trình một đứa trẻ trưởng thành giữa cuộc sống hiện đại ngổn ngang vấn đề và nhiều bất trắc.

20 năm trước, độc giả Việt Nam biết đến nhân vật “Thằng Nhóc” trong tiểu thuyết cùng tên của Alphonse Daudet. Câu chuyện về Thằng Nhóc đầy tình cảm, chạm tới người đọc với ngòi bút tinh tế và mang tính giáo dục cao. Ấy là câu chuyện về một chú bé tỉnh lẻ nghèo khổ và yếu đuối, trải qua hành trình trải đầy gian nan, cạm bẫy từ những năm tháng niên thiếu gian khó. Thằng Nhóc luôn đi tìm ý nghĩa cuộc sống, chịu nhiều tổn thương để hiểu ra được ý nghĩa cuộc sống của mình. Thằng Nhóc đang sống trong thế giới yên bình, nó sở hữu một thế giới trong trẻo. Khi nó biết gia đình gặp vấn đề tài chính, buộc phải chuyển tới nơi ở mới, không mang theo nhiều thứ gắn bó, bài học đầu tiên của nó là từ bỏ…

Nhưng đấy không chỉ là dạng tiểu thuyết tự truyện của Alphonse Daudet mà còn là tiểu thuyết về sự trưởng thành. Đây là thể loại quan trọng của văn học thế giới, nó miêu tả sự lớn dần của một con người. Khởi đầu là khi tuổi tác còn trẻ, quan niệm về cuộc sống còn nhiều bỡ ngỡ, nhân vật sẽ trải qua một hành trình với câu hỏi lớn: Khi nào chúng ta thật sự trưởng thành? Trưởng thành ở đây không hề là một quá trình dễ chịu. Nhân vật phải đối mặt với nhiều biến cố. Khá nhiều tác phẩm lớn trên thế giới thuộc thể loại này, ví dụ Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawer, Oliver Twist, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh… đã được dịch sang tiếng Việt.

Quá trình để trở thành người lớn đầy khó khăn nhưng cũng rất hạnh phúc. Bởi vậy, những cuốn sách viết về đề tài này chính là món ăn tinh thần quý giá cho những người đang chập chững trước ngưỡng cửa trở thành người lớn và cả những ai quay đầu nhìn lại hành trình cuộc đời khi đã ngấp nghé tuổi hoa niên. 

 THANH NGỌC

Cách mạng công nghiệp 4.0 và sân khấu Việt: “Bảo thủ” hay đối mặt?

VH- Cách mạng công nghiệp 4.0 đưa xã hội phát triển ở một tầm cao mới và đặt ra cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam nhiều thách thức gay gắt hơn nếu bản thân những người làm sân khấu không tự đổi mới mình cho phù hợp.

Nhà hát Hòa Bình được thiết kế dưới gầm hệ thống sân khấu nâng và sân khấu quay

Người đứng đầu đơn vị nghệ thuật nói chung, cá nhân nghệ sĩ nói riêng chưa phải đã có thể vượt lên để làm chủ công nghệ…

Hai mặt của vấn đề

Nhìn những tác động từ Cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 và 2.0 đã làm đổi thay diện mạo của sân khấu rất lớn: Từ chỗ sân khấu chỉ có ánh đèn dầu, đuốc sang ánh điện; từ chỗ có âm thanh thực từ dàn nhạc và đài từ của diễn viên đến chỗ có micro hỗ trợ; từ chỗ đi biểu diễn từ làng này sang làng khác bằng xe ngựa, xe bò, đi bộ sang đi biểu diễn từ tỉnh thành này đến tỉnh thành khác, nước này sang nước khác bằng các phương tiện tàu thủy, tàu điện, ô tô, máy bay; từ chỗ chỉ lưu giữ, phổ biến kịch bản bằng truyền miệng, viết tay sang in ấn phát hành thành sách, báo và đĩa hát…

Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0, đặc biệt của internet đã tác động mạnh đến nghệ thuật sân khấu Việt. Nhiều tác phẩm sân khấu được truyền đến đông đảo khán giả từ nông thôn đến thành thị, từ trong nước đến nước ngoài… thông qua các băng đĩa, internet một cách tinh gọn, nhanh chóng với chi phí thấp, tiện lợi khi chỉ cần ngồi nhà là có thể xem được nhiều vở diễn, chương trình khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính sự phát triển của công nghệ thu phát âm thanh, hình ảnh, cùng với sự phát triển như vũ bão của internet đã khiến nghệ thuật sân khấu ngoài rạp ở Việt Nam không đủ sức cạnh tranh, bị lâm vào tình trạng khủng hoảng thiếu khán giả.

Trước hết, về cơ sở vật chất, hệ thống các rạp hát, nhà hát ở nước ta hiện nay hầu hết đều không đáp ứng được yêu cầu phát triển của nhân loại tiến bộ. Trong khi đó, cách mạng công nghiệp 4.0 là cách mạng khoa học và công nghệ mới, hội tụ ở đỉnh cao của các lĩnh vực công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy, tích hợp con người – máy móc… đòi hỏi các rạp hát, nhà hát sân khấu phải được thiết kế, xây dựng, nâng cấp sao cho phù hợp, nhằm vừa đáp ứng yêu cầu của công việc sáng tạo nghệ thuật, vừa thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ mới của khán giả. Do đó, để tồn tại, phát triển, sân khấu Việt Nam phải được hiện đại hóa, nếu không không thể thu hút được khán giả với hệ thống cơ sở vật chất các rạp hát, nhà hát cũ kỹ, lạc hậu.

Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều sản phẩm giải trí và dịch vụ mới được thực hiện từ xa với chi phí không đáng kể phục vụ người tiêu dùng; internet, điện thoại thông minh, công nghệ kỹ thuật số digital và hàng ngàn ứng dụng giúp cuộc sống của con người trở nên dễ dàng hơn, năng suất hơn… làm sân khấu chịu nhiều áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn. Do đó, để hòa nhập với kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, sân khấu Việt Nam phải thay đổi về bộ máy tổ chức nhân sự, về phương thức hoạt động để tiếp cận khán giả, nếu không sẽ bị đào thải theo quy luật cạnh tranh trên thị trường.

Sân khấu đã chuẩn bị gì?

Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự phát triển ứng dụng người máy kết nối, hội tụ của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và internet… sẽ thay thế những nhân viên hậu đài làm các công việc nặng nhọc như vận chuyển, lắp ráp sân khấu ngoài trời, trang trí bối cảnh, thực hiện các kĩ xảo, thủ pháp nghệ thuật… đòi hỏi kỹ thuật phức tạp… Tuy nhiên, mọi máy móc không thể thay thế được người nghệ sĩ. Vì nghệ thuật sân khấu thuộc lĩnh vực sáng tạo, gắn liền với mọi cung bậc cảm xúc hỉ nộ ái ố của con người – điều mà máy móc không thể làm được. Nói như vậy không có nghĩa là các nghệ sĩ – nguồn nhân lực của sân khấu Việt Nam tách mình khỏi cuộc cách mạng công nghệ mới. Trên thực tế, các nghệ sĩ Việt Nam có tài năng nghệ thuật, nhưng phần lớn còn hạn chế về khoa học và công nghệ. Trong khi đó, cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến sự bùng nổ hàng loạt công nghệ mới (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet kết nối vạn vật, công nghệ điện toán đám mây, thực tế ảo…) với tốc độ thay đổi công nghệ chóng mặt. Để sân khấu có sức cạnh tranh, các nghệ sĩ Việt Nam trong quá trình sáng tạo, phải biết tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 để tạo nên sự đổi mới, đột phá về mặt hình thức nghệ thuật. Để bắt kịp với sự phát triển của thời đại cách mạng công nghệ 4.0, các nghệ sĩ phải nắm bắt, phản ánh nhanh nhạy những vấn đề xã hội mới, mang tư tưởng của thời đại, sao cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ của khán giả mới.

Cách mạng công nghệ 4.0 với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, internet kết nối vạn vật… còn thúc đẩy sự liên kết liên văn hóa giữa các quốc gia, giúp các nghệ sĩ gia tăng hiểu biết, tương tác với các nền nghệ thuật sân khấu khác trên thế giới. Tuy nhiên, chúng lại làm gia tăng mạnh hơn nữa nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, đặt các nghệ sĩ đứng trước thách thức bảo tồn di sản nghệ thuật sân khấu truyền thống. Làm thế nào giải quyết được hài hòa mối quan hệ giữa cái nội sinh với cái ngoại sinh là điều không đơn giản đối với các nghệ sĩ sân khấu truyền thống. Bởi lẽ, nếu tiếp nhận cái ngoại sinh không cẩn trọng, sẽ làm di sản sân khấu truyền thống của dân tộc bị mai một, biến tướng; ngược lại, nếu chỉ lo bảo tồn di sản, không phát huy giá trị của di sản cho phù hợp với xã hội đương đại, thì di sản khó tồn tại bền vững.

Hiện tại, sân khấu Việt Nam còn chậm đổi mới, chưa chuyển đổi, thích ứng kịp với những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ ba thì sẽ còn loay hoay, lúng túng nhiều hơn nữa trước những cơ hội và thách thức mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

 TRẦN THỊ MINH THU – Báo Điện tử Văn hóa

Nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam: Lớp trẻ thiếu tự tin?

VH- Sơn mài như một cô gái duyên dáng, mê hồn nhưng lại đỏng đảnh, khó chiều. Nghệ sĩ bước vào thế giới của sơn mài vì vậy cũng cần phải có dũng khí.

Nhận định nghệ thuật tranh sơn mài truyền thống Việt Nam đang dần dần mai một, nhiều thách thức đặt ra đối với loại hình nghệ thuật này là nội dung được các chuyên gia mỹ thuật Việt Nam và quốc tế nhấn mạnh tại cuộc tọa đàm Tranh sơn mài: chất liệu và nghệ thuật do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Viện Goethe tổ chức ngày 13.6 tại Hà Nội.

Sơn mài Việt sẽ đi đâu?

Câu hỏi được đặt ra bởi chuyên gia Hà Lan – TS Dave Van Gompel, người tự nhận đã “nảy sinh tình yêu đối với đồ sơn mài châu Á”. Thời gian làm việc với tư cách người tu sửa đồ cổ tại Bảo tàng Rijksmuseum of Amsterdam, ông đã mê mẩn nhiều đồ sơn mài châu Á, trong đó có Việt Nam. “Nhưng sau này, trong quá trình nghiên cứu của mình, tôi nhận ra rằng, các quốc gia có truyền thống sơn mài dường như đang đứng giữa ngã ba đường và đối diện với câu hỏi: “Chúng ta sẽ đi đâu từ đây?”. Tôi chắc rằng sơn mài Việt Nam cũng như sơn mài Nhật Bản mà tôi đã từng nghiên cứu, đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức”, chuyên gia Hà Lan nhận định.

TS Dave Van Gompel đúc kết, thách thức đầu tiên là sự già hóa nhanh chóng của những người làm sơn mài. Những họa sĩ trẻ ngày nay không còn tự tin rằng họ có thể sống được với nghề sơn mài và chuyển ra những thành phố lớn để tìm kiếm công việc. Ngoài ra, còn có nhiều thách thức khác như: chi phí gia tăng và sự khan hiếm nguyên liệu và công cụ; thiếu việc truyền dạy khiến cho công chúng không hiểu biết nhiều về sơn mài tự nhiên và không thể phân biệt được đồ làm bằng tay và đồ sản xuất từ nhà máy; khoảng cách ngày càng lớn giữa sơn mài thủ công và nghệ thuật…

Tôn vinh nghệ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam như một nét đẹp tự hào của người Việt trong mắt bạn bè quốc tế, PGS. TS Đặng Mai Anh (Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp) cũng không quên lo lắng bởi những nét đẹp này trong thực tế đang cần thiết được lưu giữ và bảo tồn. Bà cho rằng, sơn mài truyền thống mang niềm kiêu hãnh Việt Nam cần được lưu giữ dài lâu để không bị hỏng, cong vênh do những tác động của thời tiết, khí hậu, mối mọt.

Ở góc độ nghiên cứu, theo ThS Vũ Tuấn Dũng (Trường CĐ Sư phạm TW), những người làm công tác nghiên cứu về sơn mài truyền thống Việt Nam hiện nay quá mỏng và thiếu. Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có tác phẩm nào nghiên cứu sâu về sơn ta của các tác giả trong nước mà vẫn dùng các nguồn tư liệu nước ngoài là chủ yếu. Bên cạnh đó, lực lượng họa sĩ sơn mài Việt Nam hiện nay khá đông nhưng rất thiếu những tác giả có nền tảng căn bản. Nếu nhìn ở góc độ vĩ mô, một nền nghệ thuật không lưu tâm đến cội nguồn căn bản sẽ mất phương hướng và dễ đánh mất mình.

Cũng theo ông Vũ Tuấn Dũng, số lượng họa sĩ sơn mài Việt Nam tuy có đến vài trăm người trên cả nước nhưng đội ngũ chuyên nghiệp, coi sơn ta là chất liệu chính và sử dụng hoàn toàn nhựa sơn ta thì rất hiếm, chỉ khoảng 20- 30 người.

Để sơn mài là thương hiệu của hội họa Việt Nam

Mặc dù là loại hình nghệ thuật độc đáo của Việt Nam song trước thực tế hiện nay, các chuyên gia cũng rất trăn trở khi những người tâm huyết với nghề sơn ta truyền thống đang phải bất lực đứng nhìn hàng loạt di sản tranh sơn mài ngày một xuống cấp. Họa sĩ Phạm Chính Trung cho rằng, để những giá trị nghệ thuật quý báu này không bị biến tấu thêm, để cho những người yêu thích tranh Việt Nam và quốc tế phân biệt được dễ dàng giá trị của những bức tranh sơn mài truyền thống, đã đến lúc cần phải xây dựng những tiêu chuẩn và đăng ký thương hiệu cho sơn mài truyền thống Việt Nam, giữ cho chất liệu này là chất liệu riêng của hội họa Việt

Họa sĩ Phạm Chính Trung cũng kể câu chuyện một người nước ngoài đến Việt Nam học sơn mài truyền thống có nói lại rằng: “Nếu Việt Nam không giữ được sơn mài truyền thống thì mai kia ai muốn học sơn mài truyền thống hãy đến gặp tôi”. Ông Trung bày tỏ: “Nếu coi sơn mài truyền thống là tài sản quý giá của hội họa Việt Nam thì việc chúng ta dạy sơn mài truyền thống cho các họa sĩ nước ngoài có nên hay không? Công việc gìn giữ và phát triển sơn mài truyền thống Việt Nam không chỉ là công việc của một vài họa sĩ đam mê loại hình nghệ thuật này…”.

Những người vẽ sơn mài truyền thống ở Việt Nam hiện còn rất ít. Giới chuyên gia cũng cho rằng, để lưu giữ một ngành đã làm nên tiếng vang cho hội họa Việt Nam thì nên đầu tư và có chế độ khuyến khích để đào tạo thêm nhiều họa sĩ vẽ sơn mài.

Nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật Phạm Trung lưu ý, trước đòi hỏi từ thực tế, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cần hoàn thiện và bổ sung, thành lập nhóm chuyên gia của bảo tàng chuyên về sơn mài có khả năng giám định, phục chế các sản phẩm, tranh liên quan đến chất liệu sơn ta và sơn mài. Những chuyên gia này cần có những máy móc hỗ trợ kỹ thuật cần thiết, am hiểu kỹ thuật sâu về nghề.

Họa sĩ Lê Quốc Huy (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) cho rằng, trước thực tế nghệ thuật tạo hình thế kỷ XX đang chứng kiến những đổi thay to lớn trong việc nhìn nhận, đánh giá các tác phẩm nghệ thuật thì sơn mài cũng cần có những tìm tòi, giải pháp và cách tân, lạ hơn nữa. Qua đó mới có thể đáp ứng nhu cầu nội tại của nghệ thuật đương đại Việt Nam nói chung, sơn mài Việt Nam nói riêng. 

 MỘC MIÊN – Báo Điện tử Văn hóa

Trách nhiệm của các văn nghệ sĩ rất quan trọng

VH- Lòng yêu nước phải được thể hiện đúng cách, đúng nơi và đúng chỗ trên tinh thần xây dựng. Mọi người hãy tỉnh táo để thể hiện lòng yêu nước của mình một cách chân chính.

 Mỗi cá nhân cần phải bình tĩnh

Người dân có quyền nêu ý kiến và gửi chính kiến của mình đến các cơ quan chức năng về một vấn đề nào đó chưa rõ, chưa thực sự hiểu đúng bản chất của sự việc chứ không nên tụ tập đông người, đập phá trụ sở cơ quan như vừa qua. Những hành vi ấy là không thể chấp nhận. Qua theo dõi được biết, Quốc hội đã mở rộng nhiều kênh tiếp thu ý kiến kiến nghị của cử tri, chính vì vậy trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các tầng lớp nhân dân, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thận trọng, cân nhắc nhiều mặt và thống nhất với Chính phủ để chỉnh lý dự án Luật Đặc khu. Đồng thời Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với Chính phủ đề nghị Quốc hội cho điều chỉnh thời gian thông qua dự án luật này để có thêm thời gian nghiên cứu, tiếp thu tối đa các ý kiến xác đáng của các đại biểu Quốc hội, các cán bộ lão thành, chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân. Theo tôi, trách nhiệm của các văn nghệ sĩ hiện nay rất quan trọng, họ có nhiều ảnh hưởng đối với công chúng và người hâm mộ, nên mỗi cá nhân cần phải bình tĩnh để không đưa ra những quan điểm đi ngược lại với lợi ích của đất nước, của nhân dân.

(NSND LÊ TIẾN THỌ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam)

Cần cân nhắc khi thể hiện quan điểm trên mạng xã hội

Facebook và fanpage của tôi không bao giờ đồng tình với những quan điểm đi ngược lại lợi ích của quốc gia, của dân tộc. Bản thân tôi cho rằng các nghệ sĩ đều phải ý thức được trách nhiệm là xây dựng những tác phẩm có chất lượng và có cách nhìn nhận cuộc sống tốt đẹp. Đấu tranh cho một việc gì đó phải có nhận thức thật đầy đủ mới làm chứ không thể làm theo kiểu tự phát, hồ đồ. Quan điểm của tôi là cần phải xử lý nghiêm những thành phần gây rối, vi phạm pháp luật.

(NSƯT XUÂN BẮC, Phó Giám đốc Nhà hát Kịch VN)

Một số người đã hành xử rất sai

Cá nhân tôi cảm thấy kinh hoàng trước phản ứng quá khích vô cùng sai lầm của một bộ phận ở tại một số nơi. Tất nhiên, trong số những người quá khích thì chỉ có một số rất ít đối tượng xúi bẩy, kích động với mục đích “đục nước thả câu” thỏa mãn lợi ích cá nhân, còn lại đa số là những người dân chân chất hiền lành vì thiếu thông tin, hoặc hiểu chưa đúng vấn đề nên bị lôi kéo. Theo tôi mọi người hãy tỉnh táo để thể hiện lòng yêu nước của mình một cách chân chính thay vì hành xử cực đoan như những sự việc vừa xảy ra. Có sự yêu nước nào mà lại hè nhau xông vào đập phá trụ sở các cơ quan nhà nước, lăng mạ, đả thương người thi hành công vụ? Có ai yêu nước mà lại hô hào, cổ xúy cho cảnh bạo lực, khiến xã hội bất ổn, cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng? Đó chỉ là những hành vi lợi dụng để phá hoại chứ hoàn toàn không phải lòng yêu nước thật sự.

(Ca sĩ TÂN NHÀN)

Phải sống và tuân theo pháp luật

Kích động, hô hào người dân xuống đường gây ách tắc giao thông có phải là lòng yêu nước? Phá hoại cơ sở vật chất tại các cơ quan nhà nước; đốt phá phương tiện của lực lượng thi hành công vụ có phải là sự thể hiện của lòng yêu nước? Gây mất trật tự – an ninh, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư – kinh doanh, ảnh hưởng tới lợi ích của đất nước, trong đó có mỗi người dân, có phải là việc làm yêu nước?… Những hành vi này không thể là sự thể hiện của lòng yêu nước mà là những hành vi vi phạm pháp luật rõ ràng. Trong một nhà nước pháp quyền, mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ ai đều phải được điều tra, xử lý nghiêm theo đúng pháp luật. Lòng yêu nước phải được thể hiện đúng cách, đúng nơi và đúng chỗ trên tinh thần xây dựng. Mọi người hãy tỉnh táo để thể hiện lòng yêu nước của mình một cách chân chính.

(Đạo diễn, NSƯT TRẦN MINH NGỌC)

Trong gia đình, người lớn tuổi phải bảo ban người ít tuổi hơn

Phản ứng tiêu cực như xuống đường tụ tập đông người, gây náo loạn, thậm chí lao vào đập phá trụ sở chính quyền, cơ quan chức năng của một bộ phận người dân tại một số địa phương trong những ngày qua là khó chấp nhận. Tôi cho rằng nhiều người không nắm rõ các thông tin của Dự thảo Luật Đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt đã phản ứng rất cực đoan. Tôi rất dị ứng khi một số người, kể cả văn nghệ sĩ chưa biết đúng hay sai cứ nhảy vào mạng xã hội phản ứng tiêu cực, phát ngôn thiếu kiểm soát, thiếu cân nhắc. Theo tôi, người dân phải rất bình tĩnh, khi Nhà nước đưa ra những quyết định gì sẽ phải tính toán rất kỹ lưỡng, cần phải nhìn vào mặt tích cực chứ không nên chỉ nhăm nhăm vào hướng tiêu cực. Trong gia đình, người lớn tuổi, hiểu biết cần bảo ban con cái, suy xét mọi việc thay vì để cho người thân cuốn theo những đám đông quấy rối. Các văn nghệ sĩ có tuổi, từng trải cũng nên động viên, kiềm chế đồng nghiệp và một số đàn em nông nổi chứ! Tất nhiên là Nhà nước muốn được nghe các ý kiến đóng góp của cả cộng đồng xã hội để ngày càng hoàn thiện hơn cả về thể chế và cơ chế, song đó phải là những ý kiến mang tính xây dựng, chứ không phải lợi dụng phản biện để kích động gây rối, làm mất ổn định xã hội, chia rẽ trong nhân dân.

(NSND HOÀNG DŨNG)

 Thúy Hiền – Báo Điện tử Văn hóa (thực hiện)

Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

VH-  Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức triển lãm chuyên đề Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Triển lãm vừa được khai mạc cuối tuần qua tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Giới thiệu gần 300 hình ảnh, tài liệu, hiện vật, bài viết về 42 tập thể, 68 cá nhân được lựa chọn từ gần 250 tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong toàn quân, triển lãm chia làm 3 phần: Học tập và làm theo gương Bác; Tập thể điển hình; Cá nhân tiêu biểu. Những hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại đây phản ánh việc triển khai thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ’’; tác phẩm văn học, nghệ thuật, các mô hình mới, cách làm sáng tạo của tập thể điển hình tiên tiến, tiêu biểu trong “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; hiện vật về các cá nhân tiên tiến, tiêu biểu, những con người đã vượt lên hoàn cảnh số phận, dám nghĩ dám làm, hết lòng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đáng chú ý, triển lãm trưng bày một số mô hình sáng kiến, cải tiến kỹ thuật như: “Hệ thống chỉ huy hỏa lực trong đánh địch tiến công hỏa lực ban đêm thời tiết xấu”; Mô hình giàn mềm cơ khí của Tổng Công ty Đông Bắc dùng để huấn luyện chuyển giao công nghệ, đảm bảo kỹ thuật, an toàn cho cán bộ, công nhân kỹ thuật trước khi lắp đặt và khấu than lò chợ…

Triển lãm dự kiến diễn ra trong một tháng.

(Nguồn: Báo Điện tử Văn hóa)

Trưng bày ” Văn học – Nghệ thuật trong kháng chiến (1945-1954)”: Sống lại những tháng năm lịch sử

VH-  “Với gần 200 tài liệu, hiện vật, hình ảnh, bản trích, bản viết có giá trị lịch sử, trưng bày “Văn học – Nghệ thuật trong kháng chiến (1945-1954)” tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (BTLSQG) sẽ đưa đến công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ lăng kính chân thực, để nhìn thấy rõ hơn giá trị soi đường, tác dụng định hướng của bản Đề cương lịch sử về văn hóa Việt Nam năm 1943. Những hiện vật “biết nói” ở trưng bày cũng khắc họa rõ nét cống hiến của lớp văn nghệ sĩ đầu tiên đã tiếp nhận các nội dung, tư tưởng của đề cương này…”, TS Nguyễn Văn Cường, Giám đốc BTLSQG chia sẻ thông tin về trưng bày chuyên đề “Văn học – Nghệ thuật trong kháng chiến (1945-1954)”, khai mạc ngày 8.6 tại Phòng Trưng bày chuyên đề của Bảo tàng (216 Trần Quang Khải, Hà Nội).

 Các nhạc sĩ đang biểu diễn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Những hiện vật tìm về ký ức

Kỷ niệm 75 năm ra đời Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943-2018), BTLSQG tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn học -Nghệ thuật trong kháng chiến (1945-1954)”. “Đây là Cương lĩnh văn hóa đầu tiên của Đảng do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo. Đề cương nêu rõ những quan điểm, tư tưởng của Đảng đối với các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, đặc biệt là ba nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới: Dân tộc, Khoa học và Đại chúng. Văn kiện lịch sử này cũng nêu rõ phương hướng cùng những nguyên tắc thiết thực cho công cuộc xây dựng nền văn hóa mới- nền văn học cách mạng…”, Giám đốc BTLSQG Nguyễn Văn Cường nhấn mạnh.

Trưng bày tập trung giới thiệu nội dung, ý nghĩa của Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, những nhận xét, đánh giá của học giả, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ; một số văn kiện của Đảng về văn hóa văn nghệ cùng nhiều tài liệu, hình ảnh, kỷ vật… về văn học nghệ thuật thời kỳ 1945-1954 hiện được lưu giữ tại Bảo tàng.

Với kết cấu chặt chẽ, trưng bày khẳng định những nội dung tư tưởng của Đề cương về văn hóa Việt Nam đã phản ánh và đáp ứng kịp thời đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa cách mạng, là định hướng quan trọng cho sự ra đời nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những quan điểm quan trọng về văn hóa trong bản đề cương lịch sử 75 năm trước đã dần được bổ sung, hoàn thiện theo yêu cầu của các giai đoạn phát triển của cách mạng sau này.

Tạp chí Tiên Phong, Cơ quan vận động Văn hóa Mới thuộc Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, số 1 ra ngày 10.11.1945 đăng toàn văn Đề cương về văn hóa Việt Nam

Đề cương về văn hóa Việt Nam và đường lối văn hóa của Đảng là một nội dung cơ bản của chuyên đề. Nhiều hiện vật, tài liệu giá trị được trưng bày trong phần nội dung này như: Truyền đơn của Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp mở đường cho phát xít Nhật vào Đông Dương, năm 1940; Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào cả nước ngày 6.6.1941; Báo “Việt Nam Độc lập”, Cơ quan Tuyên truyền của Việt Minh Cao Bằng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, số 1 (101), ngày 1.8.1941...

Những hiện vật, hình ảnh lịch sử tại đây cũng sẽ đưa người xem hồi tưởng lại những năm tháng lịch sử như hình ảnh di tích làng Võng La (Đông Anh, Phúc Yên, nay là Hà Nội), nơi Hội nghị Thường vụ TƯ Đảng họp từ ngày 25 – 28.2.1943, thông qua bản “Đề cương về văn hóa Việt Nam” do đồng chí Trường Chinh khởi thảo; Tạp chí Tiên Phong số 1 (ngày 10.11.1945) đăng toàn văn “Đề cương về văn hóa Việt Nam”…

“Tác phẩm Nhật ký trong tù với phần ghi chép những suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc là hiện vật đặc biệt tại trưng bày. Điều trùng hợp là, cũng vào năm 1943, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi chép lại những suy nghĩ của mình thì cũng năm đó, Đảng do Người sáng lập công bố bản Đề cương về văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo. Hai sự kiện cùng một thời gian, tuy địa điểm và hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng chung một cội nguồn, một tư tưởng…”, ông Nguyễn Văn Cường nhấn mạnh.

Các văn nghệ sĩ trong kháng chiến chống Pháp ở Thái Nguyên (từ trái qua phải là Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân)

Văn học nghệ thuật trong tháng năm kháng chiến

Điểm nhấn đặc biệt ở trưng bày là nội dung Văn học – Nghệ thuật trong kháng chiến (1945-1954). Các hiện vật, tài liệu được lọc chọn kỹ lưỡng ở mảng nội dung này khẳng định, bản đề cương lịch sử năm 1943 đã soi đường, chắp cánh cho hoạt động sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ, nhà báo trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Vững vàng ý chí, sắc bén tài năng, đội ngũ văn nghệ sĩ luôn bám sát nhiệm vụ cách mạng, phản ánh sinh động đời sống thực tiễn đấu tranh; kịp thời động viên, cổ vũ toàn dân, toàn quân thi đua tăng gia sản xuất, giết giặc lập công, xây dựng đời sống văn hóa mới.

Giai đoạn 1945-1954 vừa là thời kỳ mở đầu, đắp móng xây nền cho văn học mới, vừa là bước chuyển tiếp lịch sử ghi nhận nhiều thay đổi triệt để và sâu sắc, từ quan niệm nghệ thuật cho tới thực tế sáng tác. Những cống hiến của lớp văn nghệ sĩ đầu tiên tiếp nhận nội dung, tư tưởng của Đề cương tuy mới ở mức độ ban đầu nhưng chính sự thay đổi đó đã mang đến một sắc thái độc đáo, làm bừng lên khí thế chưa từng có trong đời sống văn học nghệ thuật của dân tộc.

“Đi theo cách mạng, hòa mình trong bầu không khí chiến đấu sục sôi, những văn nghệ sĩ trong thời kỳ này vừa cầm bút, vừa cầm súng chiến đấu, thực sự trở thành những dũng sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Những tác phẩm thấm đẫm hơi thở cuộc sống của họ đã góp phần đưa ánh sáng của Đảng đến với đồng bào, chiến sĩ, củng cố niềm tin vào chiến thắng của dân tộc. Lịch sử thời kỳ này cũng đã ghi nhận sự đóng góp vào nền văn học nghệ thuật nước nhà rất nhiều tác phẩm để đời, mang đậm lý tưởng và chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh; có tác dụng khích lệ tuyên truyền, giáo dục to lớn…”, Giám đốc BTLSQG khẳng định.

Cùng với những bài viết, nhận định sắc bén của các học giả, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ tên tuổi như Đặng Thai Mai, Xuân Trường, Tố Hữu, Mười Hương, Lê Quang Đạo, Như Phong…, công chúng thăm triển lãm cũng tiếp cận với các tư liệu, hiện vật quý như tượng “Chân dung Bác Hồ” của bà Nguyễn Thị Kim, nữ họa sĩ, nhà điêu khắc Việt Nam đầu tiên được trực tiếp nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946; thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh em họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa tháng 12.1951; thư của họa sĩ Tô Ngọc Vân – Giám đốc Trường Mỹ thuật Việt Bắc gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 17.1.1952…

Một cuộc họp của văn nghệ sĩ ở Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp

“Nhiều tác phẩm hội họa, ca khúc, nhạc cụ, các sáng tác văn học nổi tiếng của thời kỳ này cũng mang đến cho khách tham quan cảm xúc đặc biệt về một thời kỳ lịch sử khó quên của dân tộc. Khói lửa chiến tranh không át đi những khát khao cống hiến, những sáng tạo miệt mài của lớp văn nghệ sĩ tràn đầy nhiệt huyết và lý tưởng. Tranh, tượng của các họa sĩ chiến trường như Diệp Minh Châu, Nguyễn Hiêm; truyện ngắn, tiểu thuyết của các nhà văn Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài; những bản nhạc để đời của các nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Văn Cao, cùng các tác phẩm tranh cổ động sục sôi tinh thần xung kích…, tất cả là những minh chứng sống động về một thời kỳ lịch sử đầy dấu ấn, với những áng văn thơ, những tác phẩm nghệ thuật ra đời và tỏa sáng trong khói lửa chiến tranh…” ông Nguyễn Văn Cường chia sẻ.

Gần 200 tài liệu, hiện vật… tại trưng bày không chỉ được kỳ vọng sẽ giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ nhìn thấy rõ hơn giá trị soi đường và tác dụng định hướng của Đề cương về văn hóa Việt Nam; tôn vinh cống hiến của lớp văn nghệ sĩ đầu tiên đã tiếp nhận các nội dung, tư tưởng của Đề cương mà còn mong muốn gửi gắm nhiều thông điệp giá trị tới thế hệ hôm nay. Đó là những nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân trong giai đoạn mới, đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

(Nguồn: Tâm Anh – Báo Điện tử Văn hóa)