Đưa các chương trình nghệ thuật vào tour du lịch: Cần “vào cuộc” thực sự

VH- Đưa nghệ thuật, đặc biệt là sân khấu truyền thống trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc là một xu hướng và mục tiêu mà ngành du lịch cũng như các đơn vị nghệ thuật hướng đến. Tuy nhiên vì sao để sự gắn kết này thật sự chặt chẽ, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam vừa hấp dẫn, thu hút khách du lịch là điều không dễ.

Mới đây, theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện, các đơn vị có trách nhiệm thuộc Bộ đang bắt tay vào xây dựng các chương trình nghệ thuật biểu diễn thường xuyên, đa dạng hoá các sản phẩm du lịch để thu hút khách du lịch. Vấn đề đặt ra là làm sao để nghệ thuật và du lịch gắn kết thực sự chứ không chỉ là chuyện đánh trống bỏ dùi…

Cú “bắt tay” còn chưa chặt?

Từ năm 2008, Bộ VHTTDL đã tổ chức hai cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo, nghệ sĩ của 12 nhà hát trung ương với gần 100 doanh nghiệp lữ hành, khách sạn 3 -5 sao trên địa bàn Hà Nội nhằm tạo một cơ hội lớn trong việc hợp tác các đơn vị du lịch trong nước để phát triển, các nhà hát gắn kết với ngành du lịch để bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, thu hút khán giả, các công ty lữ hành cũng rất cần sự hỗ trợ của các nhà hát để làm phong phú sản phẩm du lịch. Vậy mà từ đó đến nay đã gần 10 năm thì hai ngành này vẫn chưa thực sự “bắt tay” chặt chẽ để đạt hiệu quả như mong muốn? Phải chăng vì chương trình của các đơn vị nghệ thuật hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách hay các công ty lữ hành, du lịch đang tìm đủ mọi cớ để “né” việc đưa khách du lịch đến xem tại các rạp hát để giảm tối đa thời gian và kinh phí? Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra từ chính những người trong cuộc.

Khẳng định chương trình của Nhà hát Tuồng VN là rất đặc sắc về chất lượng cũng như phù hợp cả về thời lượng, ông Phạm Ngọc Tuấn, Giám đốc Nhà hát Tuồng cho biết: “Nhà hát đã có 3 chương trình phục vụ khách du lịch với thời lượng không quá 1 tiếng đồng hồ và khoe được những gì hay, tinh tuý nhất, cô đọng nhất của nghệ thuật tuồng truyền thống. Tuy nhiên đúng là các doanh nghiệp về du lịch, lữ hành tư nhân rất hờ hững bắt tay với nhà hát đơn giản là vì họ không muốn tốn thêm thời gian và tiền bạc để đưa đón khách tới rạp hát xem chương trình nghệ thuật của chúng tôi. Có lẽ chỉ có thể trông chờ vào sự tích cực hơn nữa của các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước hoặc các đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp Bộ VHTTDL thì mới có cơ may tác động được”.

Phải là thương hiệu nghệ thuật “xịn”…

Bà Ngô Thanh Thuỷ, Giám đốc Nhà hát Múa rối VN cho biết hiện nay rất ít các công ty du lịch, lữ hành, khách sạn chịu bắt tay với các nhà hát tầm cỡ quốc gia như Nhà hát Múa rối Việt Nam đơn giản là do họ rất ngại đưa khách tới xem ở rạp hát của Nhà hát Múa rối vì địa điểm biểu diễn quá xa và vì vậy họ đã chọn hợp tác với những nhóm nghệ sĩ rối tư nhân nhỏ để phục vụ khách trong tour của họ, không cần biết đến chất lượng quan trọng đối với những đơn vị này đó là giá vé biểu diễn càng rẻ càng tốt để có lợi nhuận cao lại không mất thời gian đi lại quá xa. Vô cùng bức xúc khi nói về các chương trình biểu diễn nghệ thuật rối nước hiện nay trong các tour du lịch, bà Ngô Thanh Thuỷ cho biết: “Hiện nay một số địa điểm biểu diễn đã để cho các nhóm rối tư nhân biểu diễn và làm biến tướng đi nghệ thuật rối nước truyền thống. Tôi không thể nghĩ rằng một địa điểm biểu diễn lớn như Tuần Châu lại có thể cho một đoàn rối vào biểu diễn với chất lượng cực kém, điều đáng nói là nhà thuỷ đình biểu diễn còn được họ ốp cả đá vào”.

Ngoài những yếu tố bên ngoài tác động thì theo phản hồi của đại diện nhiều công ty lữ hành và người hướng dẫn du lịch thì hiện nay các chương trình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương khi xây dựng còn quá dàn trải cũng như các tiết mục đôi khi còn quá khó hiểu và nặng nề khiến khách du lịch không hiểu và không hào hứng với nghệ thuật. Phụ trách Nhà hát Múa rối Thăng Long, một điểm dừng chân ăn khách nhất của nghệ thuật hiện nay tại thủ đô Hà Nội, NSND Nguyễn Hoàng Tuấn chia sẻ: “Tôi cho rằng muốn nghệ thuật đặc biệt là truyền thống ăn khách, thu hút khách du lịch thì cần phải có một địa điểm ở trung tâm nằm trong quần thể các tour du lịch ở Hà Nội giống như Nhà hát Múa rối Thăng Long. Điều thứ hai mà tôi thấy các đồng nghiệp cần quan tâm hơn đó là làm sao rút ngắn độ dài cũng như thoại trong các chương trình phục vụ khách du lịch. Những tuồng tích của tuồng truyền thống rất hay nhưng nếu chúng ta cứ giữ nguyên sẽ rất khó hiểu ngay từ việc dịch để khách quốc tế hiểu các tuồng tích từ các trích đoạn”. NSND Nguyễn Hoàng Tuấn cho rằng nên các chương trình nghệ thuật truyền thống như tuồng cần có sự mạnh dạn thay đổi hình thức và kết cấu chương trình ví dụ như trong một thời gian 40 phút đến với tuồng không nên quá chú trọng tới việc đưa quá nhiều trích đoạn với nhiều tuồng tích mà nên chọn lọc 1, 2 trích đoạn thật kiệm lời và dễ hiểu, kèm theo là màn giới thiệu các vũ đạo tuồng, trang phục tuồng, giới thiệu về cách hoá trang mặt nạ tuồng theo tính cách nhân vật… sẽ hấp dẫn hơn với khán giả quốc tế.

Qua trao đổi với nhiều công ty lữ hành du lịch thì họ rất muốn có một trung tâm nghệ thuật biểu diễn tập hợp nhiều loại hình nghệ thuật để tiện cho việc đi lại của du khách quốc tế chứ không thể muốn xem múa rối thì phải ngược lên Nhà hát Múa rối Trung ương ở tận đường Trường Chinh, muốn xem chèo lại về Rạp Kim Mã… Trung tâm nghệ thuật biểu diễn ấy cần phải nằm trong quần thể danh lam thắng cảnh và di tích của Hà Nội thì càng tốt. Cách đây gần chục năm, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cũng đã từng xây dựng đề án thành lập Trung tâm biểu diễn nghệ thuật quốc gia với quy mô khoảng 30.000 – 40.000 m2 bên cạnh Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Cụm công trình khép kín bao gồm nhiều khu vực như biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương… và một số hạng mục bổ trợ như bảo tàng sân khấu, khu vui chơi giải trí, thư viện, nhà khách, nhà dịch vụ… nhưng rốt cuộc thì đề án cũng chỉ nằm trên giấy…

Có rất nhiều những vấn đề để làm sao ngành du lịch có được những cú bắt tay thật chặt với nghệ thuật nước nhà. Tuy nhiên nhìn vào chính nội tại của các chương trình nghệ thuật hiện nay vẫn còn vô số những bất cập đặt ra như các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật vẫn còn chưa biết cách làm sao để quảng bá nghệ thuật của mình một cách có hiệu quả, chưa biết chắt lọc và mạnh dạn thay đổi để làm sao chương trình tiết mục của mình phù hợp với nhu cầu của khách du lịch… Nhìn về phía ngành du lịch thì cũng rất cần có một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn với ngành nghệ thuật để làm sao khách quốc tế đến Việt Nam không những được hưởng những tour du lịch giá rẻ, chất lượng và đặc biệt là thưởng thức những chương trình nghệ thuật hay, đặc sắc xứng đáng là thương hiệu nghệ thuật nhà hát của quốc gia thực hiện.

(Nguồn: Báo điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Phụ nữ Bộ VHTTDL: “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”

     Ngày 7/3, tại trụ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Công đoàn Bộ phối hợp với Ban “Vì sự tiến bộ phụ nữ” Bộ VHTTDL tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và khen thưởng Phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” hai năm (2015-2016). Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên đã tới tham dự chương trình.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên

     Phát biểu khai mạc buổi lễ, đồng chí Nguyễn Thị Bích Ngoan, Trưởng Ban nữ công Bộ VHTTDL cho biết: “Lễ gặp mặt kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại những chặng đường vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và bày tỏ tấm lòng tri ân sâu sắc đối với những người phụ nữ, người mẹ, người vợ – những người đã và đang âm thầm, bền bỉ góp sức mình làm đẹp cho gia đình, cho cuộc đời”.

Đồng chí Nguyễn Thị Bích Ngoan – Trưởng Ban nữ công Bộ VHTTDL

     Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ nữ của ngành VHTTDL đã tăng cả về số lượng và chất lượng, với nhận thức đầy đủ về vai trò của đội ngũ cán bộ nữ, Đảng bộ chính quyền, đoàn thể Bộ VHTTDL đã kịp thời triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước, liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ, thông qua các công tác đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ nữ, tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên chức phấn đấu rèn luyện, đóng góp nhiều hơn nữa tài năng, trí tuệ của mình cho sự nghiệp phát triển của ngành.

     Tham dự chương trình, Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên đã bày tỏ sự vui mừng trước những thành quả mà chị em cán bộ, công chức, đoàn viên Công đoàn Bộ VHTTDL đã đạt được trong những năm qua. Trên tinh thần Quốc tế Phụ nữ 8/3 và tinh thần quật khởi của Hai Bà Trưng anh hùng, Thứ trưởng mong rằng các nữ cán bộ, công chức, đoàn viên Công đoàn Bộ VHTTDL, trên cương vị công tác của mình sẽ luôn nỗ lực phấn đấu, đoàn kết tương trợ lẫn nhau; năng động, sáng tạo, nhiệt tình trong công việc; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; quyết tâm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước; đồng thời cần phát huy tinh thần và truyền thống của người phụ nữ Việt Nam luôn “Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang”, để chủ động giải quyết tốt công việc cơ quan, công việc gia đình, xứng đáng là người phụ nữ: “Giỏi việc nước – đảm việc nhà”.

     Kết thúc phần lễ kỷ niệm, các đại biểu đã được lắng nghe GS.TS Trần Lâm Biền trình bày về chuyên đề “Tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt” – Di sản văn hóa phi vật thể mới nhất được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Chương trình nghệ thuật minh họa cho phần nói chuyện chuyên đề “Tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt”

     Bên cạnh phần kỷ niệm Ngày quốc tế Phu nữ, chương trình còn biểu dương, tôn vinh những tập thể và cá nhân xuất sắc trong phong trào thi đua hai giỏi của công đoàn Bộ VHTTDL. Theo Báo cáo tổng kết công tác nữ công Bộ VHTTDL, đều đặn hàng năm, Công đoàn Bộ đều có các văn bản hướng dẫn các công đoàn cơ sở triển khai công tác nữ công, chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Phong trào đã và đang được các nữ đoàn viên thực hiện có hiệu quả, thể hiện được phẩm chất và năng lực, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng mỗi cơ quan đơn vị của ngành. Phát huy những thành tích đã đạt được, năm 2017, Ban công tác nữ công Bộ VHTTDL sẽ thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm như: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; Tiếp tục thực hiện kế hoạch triển khai chiến lược phát triển gia đình Việt Nam và chương trình hành động quốc gia phòng chống bạo lực gia đình đến 2020; Nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, tôn vinh khen thưởng kịp thời những nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tiêu biểu; Phối hợp với Ban “Vì sự tiến bộ phụ nữ” giới thiệu tới chính quyền, cơ quan những nữ cán bộ có đủ điều kiện để đào tạo, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; Kiểm tra giám sát thực hiện chế độ chính sách đối với lao động nữ; Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, đẩy mạnh hoạt động xã hội;…

Tặng Bằng khen cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào

     Tại buổi lễ, 10 tập thể đã được Tặng bằng khen phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Công đoàn viên chức Việt Nam; 12 cá nhân được tặng Bằng khen phong trào thi đua 2 giỏi của Công đoàn viên chức Việt Nam; 11 tập thể, 66 cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” đã được tặng Giấy khen của Công đoàn Bộ VHTTDL./.

(Nguồn: Báo Điện tử Bộ VHTTDL)

Nhà hát Lớn rộng cửa đón các đơn vị nghệ thuật: “Cuộc chơi” mới, các đơn vị nghệ thuật phải có cách làm mới

VH- Tới đây, các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tại Nhà hát Lớn sẽ phải tự lo “phát hành” từ 30 đến 40% số ghế mỗi đêm diễn. Sẽ điều chỉnh giá cho phù hợp với từng chương trình và loại hình nghệ thuật. Dẫu là dàn dựng mới hay phục dựng thì các chương trình cũng sẽ phải được chỉnh sửa, nâng cao để xứng tầm là một tác phẩm thật sự có chất lượng cao khi diễn ở Nhà hát Lớn…

          Đó là những định hướng được Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện nêu ra tại cuộc họp với các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật về chủ trương biểu diễn các tác phẩm chất lượng cao tại Nhà hát Lớn vào sáng 28/02/2017.

          Ông Nguyễn Đăng Chương, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn cho biết, Cục đã bàn bạc và thống nhất với các đơn vị nghệ thuật về kế hoạch biểu diễn tại Nhà hát Lớn trong năm 2017. Chính thức sẽ có hai đợt biểu diễn lớn vào tháng 5 và tháng 8 năm 2017. Tháng 5 sẽ có 12 chương trình thuộc các loại hình sân khấu truyền thống và tháng 8 sẽ có 12 chương trình thuộc loại hình sân khấu kịch nói. Số lượng chương trình được lựa chọn vào các đợt biểu diễn gồm những tác phẩm mới và cả những tác phẩm đã từng nổi đình đám trong kịch mục của đơn vị.

          Cục Nghệ thuật biểu diễn đã chỉ đạo các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật sẽ phải chỉnh sửa, nâng cao những tác phẩm đã dàn dựng trước đây bằng việc dành thời gian để tập luyện, sửa sang làm mới cảnh trí, trang phục, đạo cụ… để làm sao việc khôi phục dàn dựng lại không những đảm bảo về giá trị nội dung mà cả về hình thức cho xứng đáng với quy mô biểu diễn tại Nhà hát Lớn.

          Đại diện lãnh đạo của một số nhà hát cũng đã có những chia sẻ về giá vé, về những khó khăn và thuận lợi của mỗi đơn vị trước chủ trương bán vé các chương trình tại Nhà hát Lớn. Ông Nguyễn Thế Vinh, Giám đốc Nhà hát Kịch VN, NSND Phạm Anh Phương, Giám đốc Nhà hát Nhạc vũ kịch VN cho rằng với giá vé từ 700.000 đến 1.000.000 đồng sẽ rất khó để các nhà hát mời gọi các đối tác vì vậy cần có sự điều chỉnh. Bàn về chủ trương khoán % số lượng vé bán cho các nhà hát phối hợp cùng với công tác bán vé của Nhà hát Lớn cũng được các nhà hát thuộc loại hình kịch nói, ca múa nhạc… đồng tình nhưng với các nhà hát sân khấu truyền thống thì cho rằng sẽ gặp khó khăn. Bởi lẽ với giá vé rất thấp 100.000 đến 200.000 đồng thì ngay tại rạp hát của mình các Nhà hát Tuồng VN, Nhà hát Chèo VN cũng thấy khó để thu hút được đông khán giả. Mỗi buổi diễn của tuồng hay chèo trung bình chỉ được vài chục khán giả và chủ yếu là phục vụ đối tượng khách du lịch.

          Lắng nghe những ý kiến chia sẻ của đại diện các nhà hát về công tác tổ chức biểu diễn, bán vé doanh thu hiện nay tại Nhà hát Lớn cũng như tại các địa điểm biểu diễn thường xuyên của từng đơn vị, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện đã chia ra hai nhóm đơn vị nghệ thuật. Một nhóm sẽ tiên phong thực hiện việc bán vé doanh thu như Nhà hát Kịch VN, Nhà hát Tuổi Trẻ, Dàn nhạc giao hưởng VN, Nhà hát Nhạc vũ kịch VN… Một nhóm khác sẽ vẫn phối hợp bán vé doanh thu cùng với Nhà hát Lớn nhưng sẽ tùy theo tình hình thực tiễn để điều phối vé cho phù hợp như Nhà hát Chèo VN, Nhà hát Tuồng VN, Nhà hát Cải lương VN. Câu hỏi đặt ra có nên hạ giá vé nhiều cho các chương trình sân khấu truyền thống thuộc diện khó bán vé khi diễn ở Nhà hát Lớn, NSƯT Thanh Ngoan, Giám đốc Nhà hát Chèo VN và một số đại diện các nhà hát này cũng đã tỏ rõ quyết tâm sẽ không giảm giá quá thấp so với mặt bằng các chương trình nghệ thuật khác trong đợt biểu diễn để khẳng định giá trị của tác phẩm và thương hiệu của đơn vị.

          “Nếu hạ giá vé quá thấp thì nghệ thuật sẽ tự hạ thấp giá trị của mình, chi bằng phải dần dần nâng giá vé lên để buộc xã hội chấp nhận. Các đơn vị nghệ thuật sân khấu truyền thống cũng cần thấy rằng địa bàn hoạt động của mình không chỉ ở vùng sâu, vùng xa mà còn phải khẳng định được vị thế và vị trí của mình ngay tại trung tâm thành phố. Ngay như quan niệm nghệ thuật múa rối chỉ dành cho thiếu nhi cũng là sai, trên thực tế khi tới các suất diễn thường xuyên hiện nay thì đối tượng tới xem rối lại là người lớn và vì vậy chương trình biểu diễn cũng phải mở rộng đối tượng chứ không chỉ bó hẹp với mục tiêu phục vụ trẻ em”, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện nhận định. Tác phẩm biểu diễn là sản phẩm của mỗi đơn vị nghệ thuật và vì vậy sẽ không thể phó thác toàn bộ công tác tổ chức bán vé cho Nhà hát Lớn.

          Để các nhà hát tự lựa chọn nhóm biểu diễn tích cực năng động hay vào nhóm sân khấu truyền thống khó bán vé, khó thích ứng với cơ chế thị trường; Đề nghị các nhà hát phải suy nghĩ về nhiệm vụ, vai trò cũng như cách làm để làm sao nâng cao chất lượng chương trình và thu hút được những đối tượng khán giả riêng cho mình; Sẽ duy trì các chương trình biểu diễn theo các chủ đề riêng theo kế hoạch hằng năm… Đề ra những biện pháp trên, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện cũng đề nghị các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật cần năng động hơn, tạo phong cách riêng cho thương hiệu của mình không chỉ từ việc xây dựng tác phẩm mà còn ở phương thức tổ chức biểu diễn, kinh doanh.

          Cùng một loại hình nghệ thuật, cùng được xếp lịch diễn liên tiếp trong tháng… thì rõ ràng bản thân những người trong cuộc cũng sẽ tự đánh giá được mình qua số lượng khán giả đến xem chương trình, qua doanh thu biểu diễn và đặc biệt là sự hào hứng của khán giả là thước đo cho giá trị của mỗi chương trình cũng như thương hiệu của từng nhà hát. “Cuộc chơi” mới đòi hỏi các đơn vị nghệ thuật, đặc biệt là sân khấu truyền thống phải có cách tư duy mới trong sáng tạo cũng như cách quảng bá, tiếp thị cho tác phẩm của mình.

(Nguồn: Báo điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Công đoàn Khối Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VHTTDL) tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch công tác công đoàn năm 2017

          Thực hiện chỉ đạo của Công đoàn Bộ, ngày 21/2/2017, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Công đoàn Khối Nghệ thuật biểu diễn đã tổ chức Hội nghị Triển khai công tác công đoàn năm 2017.
          Tới dự và chỉ đạo Hội nghị, có đ/c Nguyễn Hữu Giới, Vụ trưởng, Chủ tịch Công đoàn Bộ; đ/c Nguyễn Thị Nhàn, Phó Chánh Văn phòng Công đoàn Bộ; đ/c Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Bí thư Chi bộ – Giám đốc Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội và các đồng chí trong Ban lãnh đạo Khối cùng 21 đại biểu thay mặt lãnh đạo Công đoàn các đơn vị trong khối Nghệ thuật biểu diễn thuộc Bộ.
          Tại Hội nghị, các đại biểu thay mặt công đoàn trong Khối đã phát biểu ý kiến, góp ý hoàn thiện dự thảo kế hoạch công tác của Khối năm 2017, trong đó có nhiều nội dung quan trọng liên quan đến hoạt động chung của Khối năm 2017, cũng như các hoạt động mà các công đoàn thành viên sẽ tham gia với hoạt động của Công đoàn Bộ trong năm 2017. Tại Hội nghị triển khai công tác; các công đoàn cơ sở cũng đã ký Cam kết thi đua 2017.

          Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Nguyễn Hữu Giới nhấn mạnh và đánh giá cao những kết quả hoạt động và đóng góp của các công đoàn thuộc Khối Nghệ thuật biểu diễn năm 2016 vừa qua với nhiều điểm nhấn, sáng tạo, hiệu quả; đồng thời đ/c Chủ tịch Công đoàn Bộ cũng lưu ý Ban lãnh đạo Khối và các công đoàn cơ sở chủ động, tích cực triển khai ngay các mặt công tác công đoàn; trong đó có chuẩn bị cho kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ (8/3); xây dựng kế hoạch, đề án báo cáo cấp ủy Đảng và chính quyền đồng cấp, chuẩn bị tốt nhất cho việc tổ chức đại hội công đoàn cơ sở (vào Quý II/2017); cũng như triển khai các hoạt động của Khối như: giao lưu thể thao-văn nghệ chào mừng thành công Đại hội công đoàn các cấp; Tổ chức đoàn về nguồn, giao lưu hoạt động công đoàn với địa phương v.v…./.
(Nguồn: Báo Điện tử Bộ VHTTDL)

Khai trương vở diễn mới: “Thị Hến”

          Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn và trên cơ sở nhiệm vụ,  kế hoạch của Nhà hát Chèo Việt Nam năm 2017, sáng ngày 21/02/2017, Nhà hát Chèo Việt Nam đã tổ chức khai trương vở Chèo “Thị Hến”. Tới dự Lễ khai trương có Ban Giám đốc, ê-kip sáng tạo, các đồng chí lãnh đạo các phòng, ban, Đoàn biểu diễn cùng toàn thể nghệ sĩ diễn viên, nhạc công Đoàn Nghệ thuật 2 Nhà hát Chèo Việt Nam.

          Sau thời gian thẩm định kịch bản, vở Chèo “Thị Hến” của tác giả Trần Đình Văn được chọn lựa dàn dựng để bổ sung cho dàn kịch mục Đoàn Nghệ thuật 2. Dự kiến sau 2 tháng, vở diễn sẽ được hoàn thành nhằm phục vụ công diễn đúng theo kế hoạch chỉ đạo của Ban Lãnh đạo Nhà hát và kế hoạch năm 2017.

          Một số hình ảnh Lễ khai trương vở Chèo “Thị Hến”.

IMG_8998IMG_8984IMG_8999

Biểu diễn nghệ thuật ở Nhà hát Lớn: Nhà hát phải vào cuộc bán vé

VH- Đã tới lúc các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật biểu diễn không thể đứng ngoài cuộc và phó mặc công tác bán vé, doanh thu ở các chương trình nghệ thuật diễn ở Nhà hát Lớn mà cần phải chủ động tích cực vào cuộc.

Đã tới lúc cần có một cơ chế quy định rõ trách nhiệm trong công tác phát hành bán vé doanh thu cho các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật. Không ai hiểu giá trị và chất lượng tác phẩm của mình bằng chính những người sáng tạo ra nó, vậy tại sao không để các nhà hát cùng san sẻ trách nhiệm quảng bá, bán vé cùng với Ban quản lý Nhà hát Lớn, Văn phòng Bộ…

Sau thông báo Kết luận của Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện về kế hoạch tổ chức các chương trình nghệ thuật chất lượng cao năm 2017, Cục Nghệ thuật biểu diễn vừa có cuộc họp thống nhất với các nhà hát trực thuộc Bộ và Ban quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội về kế hoạch này. Sẽ có hai đợt diễn gồm 12 chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống luân phiên diễn vào tháng 5/2017 và 12 chương trình biểu diễn nghệ thuật kịch nói luân phiên diễn vào tháng 8/2017.

Trong tháng 5 sẽ có 6 nhà hát nghệ thuật truyền thống tham gia biểu diễn gồm: Nhà hát Cải lương Việt Nam diễn vào tối 4 và 5/5 (Cung phi Điểm Bích, Hừng đông), Nhà hát Múa rối Việt Nam diễn vào tối 6 và 7/5 (Aladanh và cây đèn thần, Tôn Ngộ Không 3 lần đánh Bạch Cốt Tinh), Nhà hát Chèo Hà Nội diễn vào tối 8 và 9/5 (Nàng thứ phi họ Đặng, Vương nữ Mê Linh), Nhà hát Tuồng Việt Nam diễn vào tối 13 và 14/5 (Nữ tướng Đào Tam Xuân, Chuyện bịa của Làng Vồm), Nhà hát Ca kịch Huế diễn tối 20 và 21/5 (Vụ án Lệ Chi Viên, Dòng sông đỏ), Nhà hát Chèo Việt Nam diễn vào tối 22 và 28/5 (Súy Vân, Dây tràng hạt diệu kỳ).

Trong tháng 8, chương trình biểu diễn các vở kịch chất lượng cao mang tên Những vở kịch còn mãi với thời gian với sự tham gia của 5 nhà hát và đoàn nghệ thuật: Nhà hát Tuổi trẻ diễn vào tối 5, 6 và 7/8 (Vòng phấn Kavkaz, Tất cả đều là con tôi, Công lý không gục ngã), Nhà hát Kịch Hà Nội diễn vào các tối 8, 9 và 10/8 (Những mặt người thấp thoáng, Bỉ vỏ, Cát bụi), Nhà hát Kịch Việt Nam diễn vào các tối 11, 12 và 13/8 (Hamlet, Kiều, Lâu đài cát), Đoàn Kịch nói Công an nhân dân sẽ diễn vào các tối 17 và 18/8 (Đường đua trong bóng tối, Quyết đấu giữa sương mù), Nhà hát Kịch nói Quân đội diễn vào tối 20/8 (Dưới cát là nước).

Một số đơn vị nghệ thuật biểu diễn không nằm trong hai đợt diễn theo chuyên đề trên cũng có lịch diễn tại Nhà hát Lớn trong năm 2017: Liên đoàn Xiếc Việt Nam, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam, Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc dân gian Việt Bắc.

Tiêu chí lựa chọn các vở tham gia biểu diễn tại Nhà hát Lớn trong năm 2017 vẫn là những vở diễn, chương trình nghệ thuật đạt chất lượng cao về tư tưởng và nội dung nghệ thuật tiêu biểu của từng nhà hát, từng loại hình nghệ thuật. Ông Nguyễn Đăng Chương, Cục Nghệ thuật biểu diễn cho biết việc chuyển hướng biểu diễn ở Nhà hát Lớn theo từng chủ đề chuyên biệt theo tháng, cụ thể là chuyên đề biểu diễn nghệ thuật truyền thống và biểu diễn kịch nói là theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện.

Mỗi chuyên đề đều hướng tới một cách giới thiệu quảng bá riêng. Chuyên đề kịch nói sẽ giới thiệu những tác phẩm kinh điển của sân khấu kịch nói VN, một loại hình sân khấu tiếp thu mạnh mẽ sân khấu phương Tây và có sức lan tỏa trực diện khi đặt ra những vấn đề nóng bỏng của xã hội, đóng góp tính dự báo cho toàn xã hội.

Tháng chuyên đề biểu diễn nghệ thuật truyền thống là triển khai thực hiện Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đẩy mạnh hơn nữa việc phát huy, đưa nghệ thuật truyền thống đến với công chúng, tăng tần suất các chương trình biểu diễn để thúc đẩy quảng bá nghệ thuật truyền thống đến với công chúng, làm tốt công tác bảo tồn, giữ gìn và phát triển nghệ thuật truyền thống.

Rút kinh nghiệm của công tác tổ chức biểu diễn, đặc biệt là bán vé trong các chương trình của năm 2016 trong kế hoạch quảng bá tác phẩm tại Nhà hát Lớn, ông Phạm Đình Thắng, Cục phó Cục Nghệ thuật biểu diễn cho rằng các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tham gia vào kế hoạch năm 2017 không thể đứng ngoài cuộc và phó mặc việc bán vé, doanh thu cho Ban quản lý Nhà hát Lớn mà phải chủ động tích cực để vào cuộc.

Năm 2016, một số nhà hát cũng đã có ý thức và tiến hành rất tốt công tác phát hành vé cùng với Nhà hát Lớn Hà Nội như Nhà hát Cải lương Việt Nam, Nhà hát Tuồng Việt Nam nhưng cũng có những nhà hát chỉ bán được một vài vé. Mỗi nhà hát đều có bộ phận tổ chức biểu diễn, marketing và bộ phận này cần phải góp sức cùng với Nhà hát Lớn chứ không nên phó mặc hết cho Ban quản lý Nhà hát Lớn làm công tác bán vé. Ông Nguyễn Thế Vinh, Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam cho rằng cần có một cơ chế rõ ràng về công tác bán vé, quy định cụ thể cả việc trích % hoa hồng bán vé một cách đàng hoàng cho các nhà hát chứ không phải là việc nhà hát chỉ đi bán hộ vé.

Đã tới lúc các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật không thể đứng ngoài cuộc nữa mà phải coi công tác bán vé doanh thu là một trong những vấn đề sống còn để khẳng định vị thế của mình đối với đời sống xã hội thay vì việc diễn miễn phí, phát hành vé mời. Chính vì vậy mà giá vé bán xem chương trình nghệ thuật ở Nhà hát Lớn sẽ giảm xuống so với giá của năm 2016. Dự kiến ở mức từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng/vé.

Chỉ trong 5 tháng cuối năm 2016 khi Bộ VHTTDL tổ chức đợt biểu diễn các tác phẩm chất lượng cao tại Nhà hát Lớn đã tạo nên bầu không khí phấn khích trong giới nghệ sĩ cũng như sự phản hồi tích cực từ phía khán giả yêu nghệ thuật chân chính, sự quan tâm của dư luận xã hội và báo chí. Trong kế hoạch biểu diễn tại Nhà hát Lớn năm 2017 có nhà hát chỉ có một chương trình, có nhà hát tối đa có ba chương trình. Sự xuất hiện tại Nhà hát Lớn trong những đợt biểu diễn lớn này là dịp để các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật quảng bá thương hiệu cho đơn vị mình và dĩ nhiên để khẳng định được chất lượng của tác phẩm cũng như thể hiện được phong cách riêng của đơn vị mình. Từ đó để có thêm nhiều khán giả, nhiều hợp đồng biểu diễn được đặt hàng trực tiếp tại các đêm diễn thường kỳ tại địa điểm riêng của mỗi đơn vị. Việc sắp xếp cùng một loại hình nghệ thuật trên cùng một địa điểm biểu diễn là Nhà hát Lớn cũng như trong cùng thời điểm cũng đòi hỏi một không khí cạnh tranh lành mạnh trong sáng tạo nghệ thuật.

(Nguồn: Báo điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Đưa các chương trình nghệ thuật vào tour du lịch: “Làm đến khi thành công mới thôi”

VH- “Cần sớm xây dựng các chương trình nghệ thuật biểu diễn thường xuyên, các sản phẩm du lịch văn hóa phong phú để thu hút du khách. Phải làm đến khi thành công mới thôi”. Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện chỉ đạo trong cuộc họp hôm qua 9.2 tại Hà Nội với lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ về việc tăng cường gắn kết các hoạt động văn hóa, nghệ thuật với du lịch.

          Bộ trưởng nhấn mạnh: “Chúng ta ở giữa Thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước; chúng ta quản lý rất nhiều nhà hát, nhiều bảo tàng, có nhiều loại hình nghệ thuật đặc sắc mà không phát huy được, không kết nối vào các chương trình tour du lịch để phục vụ người dân và du khách thì quả là đáng tiếc. Tôi đề nghị Tổng cục Du lịch (TCDL), Văn phòng Bộ, Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD), Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử quốc gia và các đơn vị liên quan nhanh chóng vào cuộc xây dựng các đề án, kế hoạch, chương trình để đẩy mạnh việc gắn kết hoạt động văn hóa với hoạt động du lịch, đưa các sản phẩm văn hóa vào tour du lịch phục vụ du khách”.

“Phải xây dựng được những chương trình biểu diễn nghệ thuật hấp dẫn, thời lượng vừa phải (45 phút), sử dụng những loại hình nghệ thuật truyền thống (tuồng, chèo, cải lương, quan họ, đàn ca tài tử, hòa tấu nhạc dân tộc, múa rối cạn…) nhưng không quá hàn lâm mà nhẹ nhàng, thư thái, thiên về giải trí, tạo cảm hứng cho khán giả.

Nhà hát thì để không, diễn viên thì khao khát diễn, người dân và du khách thì khao khát đến xem mà bao nhiêu năm chúng ta không làm nổi thì là thế nào?.”

(Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện)

          Trên thế giới đã có rất nhiều nước vô cùng thành công trong việc khai thác các tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm văn hóa, công trình kiến trúc… trong hoạt động du lịch. Những nhà hát Paris Opera hay còn gọi là Palais Garnier (Pháp) với vở “Bóng ma trong nhà hát”, nhà hát Bolshoi (Nga), nhà hát Teatro Olimpico (Ý), nhà hát Opera Sedney (Úc)…; những bảo tàng Louvre (Pháp), bảo tàng Vantican, bảo tàng nghệ thuật Hermitage (Nga)… là các địa chỉ vàng mà du khách nước ngoài khi đến các quốc gia này không thể bỏ qua. Nhiều nước khác lại khai thác du lịch hiệu quả những chương trình nghệ thuật biểu diễn.

          Các chương trình biểu diễn nghệ thuật đương đại, không lời của Hàn Quốc như Bibap, Jump, Fanta Stick, Fire Man, Kung, Pangshow, DrumCat, Bibimbap… với các tiết mục hấp dẫn, tương tác giữa diễn viên với khán giả… tạo ra sự phấn khích cho hàng triệu khách du lịch mỗi năm. Hay các chương trình giải trí của Thái Lan với Alcazar show, Tiffany Show, Simon Cabaret show, Phuket Fantasea… đều là những chương trình ca múa, nhạc, kịch tổng hợp diễn ra trong khoảng 90 phút với màu sắc và trang phục rất rực rỡ, hấp dẫn, truyền cảm hứng và niềm vui thích cho người xem.

          Ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng TCDL cho rằng: “Việc kích hoạt để khai thác công trình Nhà hát Lớn Hà Nội và các tác phẩm nghệ thuật, biểu diễn thường xuyên, định kỳ trong Nhà hát Lớn để phục vụ du khách là rất trúng và khả thi mà lâu nay chúng ta chưa làm được. Nếu kết hợp tham quan nhà hát với thưởng thức nghệ thuật truyền thống Việt Nam thì đây có thể là điểm nhấn để thu hút khách nước ngoài đến Hà Nội, Việt Nam”.

          Ông Tuấn dẫn ra việc Nhà hát Múa rối Thăng Long hiện nay mỗi ngày 7-8 suất diễn, anh chị em diễn viên mệt lử. Sản phẩm du lịch quanh khu vực phố cổ thì không thay đổi mấy, nhiều năm nay vẫn thế, khách không biết đi đâu xem gì khi tới Hà Nội. “Theo tôi, cần xây dựng đề án về các chương trình tham quan và xem biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Lớn và Bảo tàng Lịch sử quốc gia, trong đó đưa ra nhiều phương án (có thời lượng, địa điểm…) để du khách lựa chọn.

          Đồng thời chuẩn bị lực lượng thuyết minh viên tại điểm tham quan Nhà hát Lớn, bài giới thiệu, tập gấp, tờ rơi…; xây dựng và công bố sớm các chương trình nghệ thuật truyền thống sẽ diễn trong Nhà hát Lớn để các công ty lữ hành đưa vào chương trình tour, quảng bá cho du khách.

          Sau khi có sản phẩm hoàn thiện, sẽ tổ chức cho đại diện các công ty lữ hành, cơ quan báo chí đến khảo sát sản phẩm, góp ý, quảng bá và đưa vào khai thác”, ông Tuấn nói. Ông Tuấn cũng cho biết, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch không phải bây giờ mới làm, cũng có một số nhà hát đã xây dựng chương trình, các công ty lữ hành hợp tác đưa khách đến nhưng chưa thành công. Khi thực hiện chương trình mới này cũng vậy, phải chấp nhận việc thời gian đầu có thể ít khách và phải tăng cường công tác marketing, quảng bá, truyền thông cho sản phẩm mới.

          Đồng ý với ý kiến này, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng phải xây dựng được những chương trình biểu diễn nghệ thuật hấp dẫn, thời lượng vừa phải (45 phút), sử dụng những loại hình nghệ thuật truyền thống (tuồng, chèo, cải lương, quan họ, đàn ca tài tử, hòa tấu nhạc dân tộc, múa rối cạn…) nhưng không quá hàn lâm mà nhẹ nhàng, thư thái, thiên về giải trí, tạo cảm hứng cho khán giả. Thậm chí, ngoài việc xây dựng những tour trọn gói tham quan phố cổ, tham quan Bảo tàng Lịch sử quốc gia, tham quan Nhà hát Lớn, xem nghệ thuật trong nhà hát còn có thể có những gói sản phẩm phục vụ khách xem nghệ thuật và dùng bữa nhẹ trong phòng Gương. Các đơn vị liên quan cần nghiên cứu, đề xuất những phương án hợp lý để thực hiện và phải kiên trì làm đến khi thành công mới thôi.

          “Nhà hát thì để không, diễn viên thì khao khát diễn, người dân và du khách thì khao khát đến xem mà bao nhiêu năm chúng ta không làm nổi thì là thế nào?”- Bộ trưởng băn khoăn. Bộ trưởng chỉ đạo các đơn vị liên quan sử dụng các nguồn lực, các chuyên gia trong ngành để thực hiện ý tưởng này. Hết tháng 2.2017 phải xây dựng xong đề án về các chương trình nghệ thuật biểu diễn trong Nhà hát Lớn, những nội dung về sản phẩm văn hóa du lịch này và đề án thu hút khách du lịch và kêu gọi các doanh nghiệp du lịch hưởng ứng chương trình này. Tháng 3.2017 tổ chức marketing, quảng bá truyền thông cho chương trình, sản phẩm mới; mời doanh nghiệp và báo chí đến khảo sát, lấy ý kiến về sản phẩm. Tháng 4.2017 đưa vào khai thác ngay.

Thúy Hà

(Báo Văn hóa điện tử) 

Âm vang về nguồn

          Có lẽ, nên bắt đầu bài viết này từ câu nói: “Nếu tôi có chết, tôi cũng trở thành “ma Chèo”!”– một câu nói thực sự ám ảnh – trích lời Giáo sư Trần Bảng trong cuộc trò chuyện sáng ngày 20 tháng Chạp năm 2016 tại buổi gặp gỡ cuối năm dành cho nghệ sĩ, cán bộ đã nghỉ hưu được tổ chức thường niên vào dịp áp Tết của Nhà hát Chèo Việt Nam.

IMG_6558

(Giáo sư Trần Bảng)

         Phát biểu của Giáo sư Trần Bảng thật ngắn nhưng đã nói hộ cả tâm tư nhiều người. Nhạc sĩ – NSƯT Bùi Đức Hạnh thì trăn trở đối với vấn đề “trả nghệ thuật Chèo về không gian làng quê”. Đành rằng quá rõ, Chèo sinh ra ở làng quê nhưng không vì thế, cứ về quê Chèo mới có đất sống. Vả lại trình độ cảm thụ nghệ thuật luôn luôn bao giờ cũng tương ứng với trình độ nhận thức. Con người thời hiện đại dù là ai nếu còn thẩm mĩ chân chính thì dẫu ở thị thành cũng vẫn vào rạp để thưởng thức nghệ thuật, thụ hưởng điều kiện vật chất hiện đại nhưng tái giữ được không gian nơi nó tồn tại và ra đời. Khác NSƯT Bùi Đức Hạnh, Nguyên Giám đốc Vũ Đình Quân lại quan tâm tới vấn đề tổ chức. Cá nhân ông bày tỏ tin tưởng vào Ban lãnh đạo đương nhiệm. Còn nghệ sĩ tiền bối Duy Đính thì thương yêu dặn dò các em học sinh không lãng phí sức khỏe, chú ý chăm chút nhan sắc, giọng hát. Các em cần nhớ rằng, giọng hát – nhan sắc là phương tiện của biểu hiện nghệ thuật. NSND Diễm Lộc tuy không nói trước tập thể nhưng bà ngồi dưới hết sức nhiệt thành tâm tình với diễn viên trẻ kinh nghiệm diễn xuất của mình. Muốn diễn giỏi trên sân khấu nhất định phải rèn rũa làm sao tới mức đủ “độ”, không thiếu hụt lại càng không nên vượt quá “ngưỡng” tính cách mình nhập vai…Cứ như vậy, nhiều câu chuyện, nhiều tâm tư cả một năm đọng lại mà cảm thấy khoảng thời gian nửa ngày quá ngắn ngủi để nói! Nhưng đã chạm tới nghề thì nói biết đến bao giờ cho đủ?! Bữa tiệc cuối năm, “đủ” ở đây có chăng là  đủ đầy tình cảm giữa thầy và trò; giữa anh em đồng nghiệp gắn bó cùng nhau. Nhịp sống xô bồ hối hả hiện nay, cứ ngày 20 tháng Chạp, ở Nhà hát Chèo Việt Nam bây giờ, lúc này và ngày mai, vẫn mãi giữ truyền thống chân quý ấy!

          Trở lại câu nói của GS Trần Bảng. Thực ra, với một nhà lý luận gạo cội như ông thì chuyện “ma” thuộc về duy tâm, không thể tồn tại trong ý thức khoa học duy vật. Câu nói đó trước hết đơn giản hiểu như cách diễn đạt gần gũi, thân thuộc để gửi gắm toàn bộ niềm tin và tình yêu đối với nghệ thuật Chèo. Sống vì Chèo, chết đi cũng vẫn ở trong Chèo. Chèo đã hóa thành linh hồn, nguyên khí. Thực thể con người không ai cưỡng lại được quy luật hữu hạn nhưng nguyên khí thì vẫn mãi còn, không bao giờ mất. Và “ma Chèo” ở đây, không gì khác ngoài nguyên khí vô hình mà giáo sư đã vận dụng thành quả từ vật lý – y học; chứng minh ở đó, luôn chứa đựng khả năng tái sinh sức mạnh, có thể tiếp sức, khơi dậy năng lượng sáng tạo nơi đời sống tinh thần những ai tâm thành, chung thủy với con đường khẳng định chân lý sinh tồn của tinh hoa nghệ thuật truyền thống!

          “Ma Chèo” sau nữa nếu hiểu từ góc độ  văn hóa – đạo đức, với uy tín,  nhân cách của người thầy, thầy Trần Bảng đã ân cần, độ lượng nhắc nhở lớp lớp thế hệ học trò bài học “tiên học lễ, hậu học văn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”… “Làm nghề” quan trọng, nhưng “làm người” phải đặt lên trước hết. Nhớ ơn tiên tổ rồi mới đến việc, làm thế nào để xứng đáng với tổ tiên, âu cũng là mong mỏi mà nếu chẳng may một ngày thầy về với các cụ thì thầy vẫn mãi dõi theo, Chèo ở đâu, thầy ở đó!

          Nói lại về nguồn cội nghi lễ ngày Tết, xin lược trích sau đây vài điều sơ giản. Ai cũng biết rằng trên thế giới, nhiều quốc gia ăn Tết “tây” – tết Dương lịch, một số nước khác trong đó có Việt Nam ăn Tết “ta” – tết Âm lịch hay còn gọi là tết Nguyên đán. Từ xưa người Việt Nam coi tết Nguyên đán là một trong những dịp lễ truyền thống quan trọng nhất của năm. Nguyên nghĩa của từ “tết” là “tiết”. Sở dĩ  vì đất nước ta thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, xuất phát từ nhu cầu sản xuất, cha ông đã phân chia thời gian trong một năm thành những “tiết” và ứng với mỗi “tiết” có khắc “giao thời”. Trong những “tiết” ấy thì tiết Nguyên đán (bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 Âm lịch) khởi đầu một chu kì canh tác, gieo trồng, được chọn làm dịp lễ-  sau này dân gian thường gọi chệch bằng tên: tết Nguyên đán.

          Dân tộc Việt bắt đầu ăn Tết từ khi nào tới nay chưa có tài liệu xác định chính xác. Tuy nhiên, tìm hiểu truyền thuyết và lịch sử, vào khoảng cuối thiên niên kỉ thứ ba trước Công nguyên, thủy tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương Lộc Tục sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lên ngôi vua kết hôn cùng Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở thành trăm người con. Người con trưởng trở thành Vua Hùng. Hùng Vương có tất cả 18 đời. Đến đời thứ 6, người con trai thứ 18 của Vua Hùng mang tên Lang Liêu đã làm bánh chưng bánh giầy để dâng lên cúng thờ tiên tổ, bày tỏ tấm lòng thành kính. Và Tết Việt Nam cho rằng, có gốc rễ từ đó.

          Theo lịch sử, Tết nước ta sớm hình thành như một nét văn hoá mang bản sắc riêng của người Việt. Ý niệm Tết là dịp hướng về cội nguồn từ thuở sơ khai đã ăn sâu vào tiềm thức hết thế hệ này sang thế hệ khác. Một trong những phong tục đẹp đẽ nhất ngày Tết còn gìn giữ được đến nay là tri ân tổ tiên. Dân gian truyền tụng câu “mồng Một tết cha, mồng Hai tết chú, mồng Ba tết thầy”, ẩn ý ghi nhớ công đức sinh thành dưỡng dục của bậc tiền nhân bằng cả tấm lòng biết ơn sâu sắc.

          Trở về với Nhà hát Chèo Việt Nam, đã từ lâu thành lệ, cứ vào cuối năm, dù bận rộn thế nào Ban Giám đốc cũng sắp xếp tổ chức một buổi gặp gỡ như thế. Buổi tụ họp các bậc lão thành làm nghề là Tết nghề, tết dành cho những ai từng công tác tại nhà hát đầu ngành. Phong tục ngày Tết nghề,trên ban thờ tổ tại rạp có mâm lễ cùng tuần hương khẩn cầu linh hồn các cụ; trên sân khấu có chương trình nghệ thuật chọn lọc kính trình thế hệ đi trước thành quả một năm lao động phấn đấu.  Mỗi năm mỗi khác, các thầy vui mừng vì sự tiến bộ của con cháu, còn cháu con lại thấy an lòng vì mình lại như về nhà, được nương tựa, sẻ chia mọi khó khăn vất vả. Có thể nói, nếu như Chèo – một trong những biểu trưng cho cái đẹp của nghệ thuật truyền thống thì Tết Chèo ở Nhà hát Chèo Việt Nam là “văn hóa trong văn hóa”, thấm đượm yêu thương, ân tình!

          Như thế, khi cái tên Nhà hát Chèo Việt Nam vẫn xướng lên thì cũng có nghĩa nghệ thuật Chèo không thể mất đi. Khi nghệ thuật Chèo không mất đi, Tết Chèo chắc chắn vẫn còn. Buổi gặp mặt hôm nay đã mãi vắng nghệ sĩ nào đó, sang năm có thể lại vắng thêm nhưng rồi sẽ lại được bổ sung một cây đa tỏa bóng. Nguyên khí nghề nghiệp mà GS Trần Bảng đã nói – tích tụ theo bề dày lịch sử bởi những bóng “ma Chèo” – dần trở thành khối năng lượng lớn. Nó tựu chung lại ở ý thức nghề nghiệp, tình yêu. Tình yêu, ý thức nghề nghiệp lớn đến đâu sẽ quyết định đạo đức, tinh thần xả thân vì nghề đến đó! Đấy là dư âm vang vọng khó quên trên chuyến hành hương về nguồn dịp Tết 2017 tại Nhà hát Chèo Việt Nam.

          Nghĩa từ vựng, “nguyên” chỉ sự khởi đầu, “đán” là buổi sớm mai. Ghép lại, tết Nguyên đán mang nét nghĩa: thời điểm khởi đầu niềm tin niềm hi vọng. Với truyền thống “văn hóa trong văn hóa”, “uống nước nhớ nguồn”; với sự tiếp sức mạnh mẽ của thế hệ cha ông, tin rằng một mùa xuân mới tràn đầy sức sống hơn, đẹp hơn, sẽ ở lại với Nhà hát Chèo Việt Nam nói riêng và, nghệ thuật Chèo nói chung!

         Một số hình ảnh tại buổi gặp mặt các thế hệ diễn viên Nhà hát nhân dịp Xuân Đinh Dậu 2017:

IMG_6488

IMG_6566IMG_6574IMG_6577

IMG_6542IMG_6482IMG_6504IMG_6538Th.S Ninh Thanh Hà

(Phòng Nghệ thuật)

Thư chúc Tết của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện

Các đồng chí thân mến!

Nhân dịp năm mới và đón xuân Đinh Dậu, thay mặt Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tôi thân ái gửi đến các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các em học sinh, sinh viên Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các nghệ sĩ, nghệ nhân, huấn luyện viên, vận động viên, trọng tài cùng gia đình những lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Năm 2016, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các Ban, Bộ, ngành, địa phương, với tinh thần “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cả nước đã nỗ lực, triển khai có hiệu quả kế hoạch công tác năm 2016, hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển Ngành và đạt được nhiều kết quả nổi bật.

Nhiều di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu được UNESCO vinh danh; nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, quy mô lớn được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, góp phần tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Đặc biệt, năm 2016 là năm thành công rực rỡ của thể thao Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử đoạt huy chương vàng tại Olympic, Paralympic và Châu Á. Du lịch Việt Nam tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân khi lần đầu tiên đón 10 triệu lượt khách quốc tế, về đích trước 4 năm so với mục tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Một dấu ấn mang tính lịch sử là năm nay Bộ Chính trị đã xem xét và nhất trí ban hành Nghị quyết về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Trong các thành tích và thành tựu nói trên có hình ảnh, có công sức và có sự nỗ lực tột bậc của tất cả chúng ta. Bước sang năm 2017, tôi tin tưởng và hy vọng rằng, các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tập trung cao độ, đoàn kết, sáng tạo, phấn đấu thi đua, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017.

Chúc các đồng chí cùng gia đình năm mới sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

Chào thân ái!

Nguyễn Ngọc Thiện

Ủy viên BCH Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Người Việt nghe gì, xem gì trong 10 năm trước Đổi mới

Đa số nghe đài, đi xem hội diễn, gia đình có điều kiện xem tivi đen trắng Nép-tuyn, sang hơn thì đổi đồng hồ Peugeot lấy vé xem kịch hay phim chiếu rạp.

Sau năm 1975, cả nước bước vào thời bao cấp, thay vì chỉ miền Bắc như trước đó. Trong bối cảnh đời sống hậu chiến nhiều khó khăn, phương tiện giải trí còn nghèo nàn.

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhớ lúc đó truyền hình bắt đầu đến với người dân nhưng thời lượng ít, chủ yếu tin tức, nội dung chính trị. Văn nghệ trên tivi thường là vài bài hát huy động mọi người ra mặt trận, một số vở kịch, phim truyền hình của các nước Xã hội Chủ nghĩa, vẫn với mục tiêu chính là tuyên truyền.

NSND Lê Tiến Thọ – chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – nhớ sau năm 1975, ở miền Bắc chỉ một số cơ quan mới có tivi. Đến 1985, gia đình nào oách lắm mới có. “Hồi 1985, tôi đi Nga về có cái tivi đen trắng, mỗi lần đá bóng cả khu văn công Mai Dịch đổ sang xem, xì xụp suốt đêm. Có lần đoàn tuồng chúng tôi lên trụ sở của đài khi đó ở 58 Quán Sứ để diễn vở cho truyền hình, được một phiếu mua tivi Nép-tuyn (Neptune). Tối cả đơn vị ngồi xem phải vỗ vỗ mới lên được hình”, ông Thọ nhớ.

Ở miền Nam, từ năm 1976, Đài Vô tuyến Truyền hình Sài Gòn Giải phóng được đổi tên thành Đài Truyền hình TP HCM, chủ yếu phát các chương trình chính trị, xã hội, văn hóa.

Khi truyền hình chưa phát triển, để giải trí, người dân phần lớn nghe đài, dự các hội diễn văn nghệ quần chúng hay xem xiếc, xem kịch, đi nghe nhạc…

Sân khấu giữ một vị trí quan trọng với người dân cả nước giai đoạn này.

Ở Hà Nội, sân khấu kịch nói phát triển mạnh mẽ. “Lúc bấy giờ, ra vở nào khán giả cũng đón nhận hào hứng. Nhà hát Kịch, rạp Công An, Đại Nam, Công Nhân, Nhà hát Lớn… có khán giả xếp hàng dài. Thậm chí, có người đổi đồng hồ Peugeot để lấy một đôi vé đi xem kịch. Lúc bấy giờ họ ở chiến trường ra, được xem một vở diễn thì sướng lắm”, NSND Lê Tiến Thọ kể.

Đội ngũ đạo diễn mạnh gồm các tên tuổi như Phạm Đình Nghi, Phạm Thị Thành, Đoàn Anh Thắng… đều được đào tạo ở Nga. Về tác phẩm, Lưu Quang Vũ gây tiếng vang với Tôi và chúng ta, Lời thề thứ chín, Hồn Trương Ba, da hàng thịt…, Doãn Hoàng Giang với Hà My của tôi

Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam – Lê Thế Vinh – nhớ sự phát triển của sân khấu khi đó còn thể hiện qua hoạt động rầm rộ của phe vé. Các đoàn thường đùa với nhau phe vé là hội đồng thẩm định nghệ thuật thứ hai. “Hội đồng phe vé rất nhanh nhạy, hễ vở nào họ ôm vé là y như rằng thành công”, ông Vinh đùa.

Ngoài diễn ở thành thị, các đoàn đi khắp nơi để diễn cho người dân. Khán giả nô nức kéo đến. Mỗi đêm đến 3.000, 4.000 người, xếp hàng mua vé, chen chúc, thậm chí đánh nhau. Chỉ tiêu của các đoàn là mỗi năm dựng hai, ba vở và khoảng hơn 200 buổi đi biểu diễn phục vụ cả nước.

Thời gian này, sân khấu truyền thống (tuồng, chèo…) đứng trước thách thức của thị hiếu mới. Theo NSND Lê Tiến Thọ, để có thể tồn tại, sân khấu truyền thống phải chấp nhận cải biên. Đặc biệt, sau 1975, nhiều nghệ sĩ cải lương từ trong Nam như Thanh Kim Huệ, Út Bạch Lan, Minh Vương, Lệ Thủy đổ bộ ra Bắc, trở thành “ông hoàng bà chúa” trong khoảng vài năm.

Ở TP HCM và cả miền Nam lúc đó, kịch nói và cải lương vẫn hoạt động mạnh. Sân khấu cải lương phía Nam có hai hình thức: tư nhân và Nhà nước. Dù vậy, hầu hết đoàn hát cải lương cũ bị giải tán, thay bằng những đoàn mới do các cơ quan, đoàn thể Nhà nước thành lập.

NSND Bạch Tuyết nhớ các đoàn cải lương Sài Gòn 1, Sài Gòn 2, Thanh Minh – Thanh Nga, Văn công Thành phố… hoạt động sôi nổi. Mỗi đoàn đều có nhà hát, trụ sở riêng để tập luyện. Các vở chủ đề xã hội, dân gian, lịch sử như Tiếng trống Mê Linh, Tâm sự Ngọc Hân, Đời cô Lựu, Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn hào hoa… được dàn dựng hoành tráng. Nghệ sĩ kể đầu năm 1979, bà được mời diễn vai Dương Vân Nga trong vở cùng tên tại Nhà hát Trần Hữu Trang.”Chúng tôi phải diễn một ngày hai hoặc ba suất mới có thể đáp ứng phần nào yêu cầu của khán giả. Có lúc, người xem các nơi phải đặt vé trước hàng tháng”.

Về kịch nói, một thời gian dài, các vở Dưới hai màu áo, Lá sầu riêng, Huyền thoại mẹ… chinh phục người xem. Nữ nghệ sĩ Kim Cương nhớ khi vở Lá sầu riêng được đưa lên truyền hình đã tạo cơn sốt không chỉ miền Nam mà cả khán giả phía Bắc.

Nam bộ khi đó còn chứng kiến thời kỳ hoàng kim của hát bội. Các đêm hát bội vẫn có vé chợ đen và được xem là loại hình được xếp ngang hàng với cải lương và kịch nói.

Âm nhạc cũng phát triển phong phú hơn trong đời sống người dân so với thời kỳ chiến tranh và có sự chuyển hướng ở cả hai miền.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, sau thống nhất, ngoài các ca khúc chính trị – cách mạng trên đài, tivi hay loa phát thanh, miền Bắc bắt đầu tiếp xúc với máy hát, băng đĩa và một số loại hình nghệ thuật từ miền Nam. Những ca khúc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn về tình yêu, triết lý đời sống, nhạc phản chiến được lưu truyền mạnh, dù không phát trên những phương tiện truyền thông Nhà nước. Đó là lúc văn hóa đô thị Sài Gòn bắt đầu ảnh hưởng ra miền Bắc.

Ở miền Nam, đời sống âm nhạc lại chuyển hướng theo cách khác. Tại TP HCM, nhạc trẻ, sinh hoạt bar, club rộn ràng trước đây đã hoàn toàn vắng bóng. Khoảng năm 1977 trở đi, phong trào hát ca khúc chính trị phát triển rầm rộ. Những nhạc phẩm như Xuân chiến khu, Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây, Trị An âm vang mùa xuân, Viếng lăng Bác…. vang lên khắp nơi.

Ca sĩ Ánh Tuyết – một thời là giọng hát đình đám ở miền Trung – nhớ phong trào này rất mạnh ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Huế, Nha Trang. “Thời đó ở Huế, một đêm tôi chạy show hai điểm như Rạp Hưng Đạo, cung An Định. Rồi chạy show hát ở các đại học, nhà máy hay chui xuống hào làm đá hát cho công nhân nghe”, Ánh Tuyết nhớ lại.

Tại TP HCM, từ sau năm 1982, các tụ điểm ca nhạc như 126 (nay là Cầu Vồng), tụ điểm Kỳ Hòa (quận 10), Phú Thọ (quận 11), Tao Đàn (quận 1)… phát triển mạnh, thu hút nhiều ca sĩ ngôi sao như Ngọc Anh, Nhã Phương, Bảo Yến, Hồng Hạnh, Họa Mi… Những đêm diễn có tụ điểm thu hút hàng nghìn khán giả. Không chỉ công nhân viên chức, người lao động cũng có thể đến xem với giá vé mềm. Có tụ điểm thường xuyên tổ chức các buổi văn nghệ miễn phí quy tụ nhiều ca sĩ được yêu thích.

Đến khoảng năm 1985 – 1986, phong trào ca khúc chính trị giảm nhiệt, nhiều bài hát mới được sáng tác có màu sắc đa dạng hơn của Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Huy, Thanh Tùng, Trần Tiến, Dương Thụ, Phú Quang…

Điện ảnh cả nước khi đó chưa phổ biến nhưng đi sâu về chất lượng cả ở nội dung lẫn cách thưởng thức.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh kể ở Hà Nội và TP HCM thời đó có một mạng lưới rạp chiếu phim nhựa từ thời cũ để lại. Khi đó chưa có âm thanh nổi, âm thanh vòm và các multiplex (rạp liên hợp) như bây giờ. Ngoài tác phẩm điện ảnh Việt, rạp còn chiếu phim nước ngoài (chủ yếu phim Nga) với hình thức đọc lời thoại kèm theo trong lúc chiếu. Âm thanh và lời thoại của phim thường bị dìm đi để nghe rõ tiếng đọc thuyết minh.

Theo đạo diễn, thời đó người lớn tuổi cũng hay đi xem phim chứ không như bây giờ khán giả đa số là thanh thiếu niên. Các phim giải trí, hành động rất ít. “Đi xem phim là để thu hoạch một điều gì bổ ích cho cuộc sống, cho tâm hồn. Thời đó không ai quan niệm điện ảnh là giải trí”. Theo đạo diễn, chính nhờ vậy mà thời bao cấp điện ảnh có những tác phẩm để đời như Mối tình đầu, Bao giờ cho đến tháng 10… Chỉ có các hãng phim của nhà nước và một nhà phát hành là Phát hành phim Trung ương vào giai đoạn này.

“Trung bình mỗi năm sản xuất từ 15 đến 20 phim truyện và vài chục phim tài liệu hoạt hình. Nội dung chủ yếu phục vụ những nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ tuy vậy cũng có những phim đề tài tâm lý xã hội, phê phán những mặt tiêu cực trong đời sống”, Đặng Nhật Minh nói.

Ở miền Nam, mảng phim ảnh không sôi nổi bằng các loại hình khác nhưng vẫn để lại dấu ấn sâu đậm. Vì chuyện cơm áo gạo tiền, người đến rạp xem phim vẫn còn hạn chế. Nhiều khán giả lâu lâu mới có dịp đi xem phim một lần. Chỉ đến khi phim như Ván bài lật ngửa (1982) công chiếu, khán giả ‘rồng rắn’ kéo nhau đến rạp, tạo không khí đình đám.

“Bộ phim thật sự tạo ‘cơn sốt’ với khán giả cả nước vì đạo diễn Lê Hoàng Hoa đã làm phim đề tài cách mạng theo phong cách hoàn toàn khác hẳn các bộ phim trong nước giai đoạn này. Ván bài lật ngửa đậm chất giải trí, cuốn hút người xem chứ không cường điệu hay nặng về tuyên truyền”, NSƯT – đạo diễn Lê Cung Bắc chia sẻ.

Trong 10 năm, Xí nghiệp phim tổng hợp (sau này gọi là hãng phim Giải phóng) cùng hãng phim Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc thành phố đã cho ra đời 50 bộ phim nhựa gồm 14 phim màu, 36 phim đen trắng, trong đó có nhiều phim gây sốt như Cánh đồng hoang (1979), Ván bài lật ngửa, Mùa gió chướng

Năm 1981, Sài Gòn có phim màu chiếu rạp đầu tiên – phim Về nơi gió cát (biên kịch và đạo diễn Huy Thành) – quy tụ các diễn viên Hương Xuân, Hồ Kiểng, Trần Vịnh… Bộ phim được khán giả ủng hộ nhiệt tình vì mới lạ so với dòng phim đen trắng. Báo chí thời đó dành nhiều trang viết về bước tiến mới của loại hình phim chiếu rạp.

(Nguồn: Hoàng Thanh Vân – Báo Điện tử Vnexpress)