Xúc động chương trình nghệ thuật “Màu hoa đỏ”

Dân trí – Chương trình nghệ thuật “Màu hoa đỏ” chính là những lời tri ân gửi tới các anh hùng liệt sỹ, thương bệnh binh, các mẹ Việt Nam anh hùng, những người có công với cách mạng.

Nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017), tối 22/7, tại Nhà hát Đài tiếng nói Việt Nam- Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức chương trình nghệ thuật “Màu hoa đỏ” lần thứ 10.

Chương trình nhằm tưởng nhớ, ghi ơn và đền đáp công lao to lớn của các liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Mẹ Việt Nam Anh hùng và các gia đình có công với cách mạng.

NSND Thái Bảo ôm đàn guitar thể hiện ca khúc “Vết chân tròn trên cát” của nhạc sĩ Trần Tiến (Ảnh: Nguyễn Hùng).
Đến dự trong chương trình “Màu hoa đỏ” có bà Lâm Phương Thanh – Ủy viên Trung ương Đảng – Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, ông Nguyễn Thế Kỷ – Ủy viên Trung ương Đảng – Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam – Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, cùng lãnh đạo các bộ, ban, ngành.

“Màu hoa đỏ” gồm 3 phần: Phần 1 với chủ đề Mẹ Việt Nam anh hùng với chùm ca khúc ca ngợi người mẹ Việt Nam. Phần 2 với chủ đề Dáng đứng Việt Nam đã ôn lại lịch sử bất khuất, hào hùng của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước, sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ và các thương bệnh binh trong các cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. Phần 3 là Ngàn năm vang mãi.

Chương trình là sự đan xen giữa các tác phẩm ca múa nhạc với những phóng sự truyền hình, qua đó giúp cho khán giả được hòa mình vào không gian âm nhạc, nghệ thuật đặc sắc và thêm trân trọng, tự hào về công ơn to lớn của các liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, các bà mẹ Việt Nam anh hùng và các gia đình có công với cách mạng.

NSƯT Mai Hoa thể hiện ca khúc Mẹ của Phan Long (Ảnh: Nguyễn Hùng).
NSƯT Mai Hoa thể hiện ca khúc “Mẹ” của Phan Long (Ảnh: Nguyễn Hùng).

Rất nhiều ca khúc đi cùng năm tháng được vang lên khiến khán giả cả nước xúc động như: “Màu hoa đỏ”, “Vết chân tròn trên cát”, “Lời ru cỏ non”, “Trái tim người lính”, “Dáng đứng Việt Nam”, “Huyền thoại mẹ”, “Mẹ”, “Người mẹ của tôi”, “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”… qua phần thể hiện của các nghệ sĩ: NSND Thái Bảo, NSƯT Đăng Dương, Việt Hoàn, Khánh Hòa, Đăng Thuật, Mai Hoa…

Tại chương trình, nhạc sĩ Doãn Nguyên đại diện ban tổ chức chương trình chia sẻ rằng, những người nghệ sĩ của Đài tiếng nói Việt Nam luôn cống hiến hết mình để tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sỹ, đã hy sinh vì đất nước. Những chương trình trên sóng vẫn thường xuyên có những bài ca ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi người lính, những chiến công, ca ngợi sự hy sinh của họ…

Cũng trong chương trình, ban tổ chức cũng đã trao tặng sổ tiết kiệm và nhiều phần quà ý nghĩa cho một số thương binh, bệnh binh tiêu biểu của Trung tâm điều dưỡng thương binh huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Bà Lâm Phương Thanh và ông Nguyễn Thế Kỷ trao quà cho một số thương binh, bệnh binh tiêu biểu của Trung tâm điều dưỡng thương binh huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (Ảnh: Nguyễn Hùng).
Bà Lâm Phương Thanh và ông Nguyễn Thế Kỷ trao quà cho một số thương binh, bệnh binh tiêu biểu của Trung tâm điều dưỡng thương binh huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (Ảnh: Nguyễn Hùng).

“Tôi rất vinh dự được tham dự chương trình nghệ thuật“màu hoa đỏ”. Hôm nay, thấy tinh thần, nhiệt huyết cả nước hướng về ngày 27/7, anh em chúng tôi vô cùng phấn khởi”, thương binh Đinh Vạn Phúc, quê Ninh Bình chia sẻ niềm vinh dự được tham gia chương trình.

Được tổ chức lần đầu tiên năm 2008, sau 10 lần tổ chức, ban tổ chức chương trình “Màu hoa đỏ” đã huy động được 45 tỷ đồng, trao tặng hơn 12.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa, gần 526 nhà tình nghĩa, gần 600 con bò giống tới các gia đình liệt sỹ, các đồng chí thương binh, các Mẹ Việt Nam Anh hùng và trên 4000 suất học bổng cho các học sinh nghèo vượt khó của nhiều địa phương trên cả nước.

Một số hình ảnh khác trong chương trình (Ảnh: Hoa Nguyen Mai).

(Nguồn: Nguyễn Hằng – Báo Điện tử Dân trí)

Cuộc thi Tài năng biểu diễn múa: Lắm khát khao và nhiều khoảng trống

VH- Tối 20.7, cuộc thi Tài năng biểu diễn múa 2017 đã khép lại tại Hà Nội. Cuộc đua tài sau 9 năm gián đoạn đã cho thấy một thế hệ nghệ sĩ múa đầy tài năng và khát khao sáng tạo. Tuy nhiên, người ta cũng nhìn thấy ở đó những khoảng trống thế hệ ở nhiều đoàn nghệ thuật.

 Không ngại làm mới

Được tổ chức lại sau 9 năm, cuộc thi Tài năng biểu diễn múa 2017 trở thành một sự kiện được rất nhiều diễn viên múa mong chờ. Đa số các thí sinh tham dự cuộc thi lần này đều còn rất trẻ, phần lớn thuộc thế hệ 9X, một số thí sinh còn sinh năm 2000. Sự háo hức, mong chờ và khát khao cống hiến của tuổi trẻ được thể hiện rõ nét qua từng bài thi của các thí sinh. Nếu ở những kì thi trước, thí sinh thường lựa chọn các tác phẩm đã nổi tiếng của các biên đạo gạo cội để đua tài, những tác phẩm thuộc hàng kinh điển của múa Việt như Cánh chim và ánh sáng Mặt trời (NSND Thái Ly), Khát vọng (NSND Đặng Hùng), Khúc biến tấu từ pho tượng cổ (NSND Ứng Duy Thịnh), Bên dòng Lô năm xưa (NSND Công Nhạc)… được lặp đi lặp lại trong mỗi kỳ thi, thì lần này, chỉ duy nhất 1 thí sinh lựa chọn Cánh chim và ánh sáng Mặt trời. Phần lớn thí sinh tham dự Tài năng biểu diễn múa 2017 đều lựa chọn các sáng tác mới của các biên đạo trẻ như Trần Ly Ly, Tuyết Minh, Thùy Chi, Thanh Tùng, Hải Trường, Xuân Chiến, Thanh Hằng, Thúy Hằng…

Nhiều thí sinh mạnh dạn sử dụng chính tác phẩm của mình như Phạm Minh Tuấn (Trường Múa TP.HCM) với Tình quê và Độc thoại, Phạm Như Thắng (Đoàn Văn công Quân khu 3) với Bản thể và Tự truyện, Tống Mai Len, Lê Hoàng Phương Linh (Trường Múa Việt Nam) với Nỗi đau ở lại và Lầu Ngưng Bích, Hoàng Thái Sơn (Trường Đại học VHNT Quân đội) với Tình bạn… Có thể nói, sau 9 năm, làng múa VN đã hình thành một thế hệ nghệ sĩ trẻ đa năng và dám thử sức mình với cái mới. Nó cũng cho thấy, cuộc thi Tài năng biểu diễn múa giờ đây không chỉ là nơi để các diễn viên múa khẳng định tài năng, mà nó còn là nơi để các biên đạo trẻ lan tỏa sức sáng tạo.

tietmuc2_jwiwtietmuc4_qlncTuy nhiên, bên cạnh những tác phẩm tạo được đất diễn lý tưởng để các diễn viên thể hiện kĩ thuật, tài năng, thì vẫn còn không ít tác phẩm lại trở thành lực cản hạn chế năng lực biểu diễn của diễn viên. Điều này đã để lại không ít tiếc nuối cho Hội đồng giám khảo và khán giả.

Đánh giá chung về năng lực của các thí sinh tham gia cuộc thi lần này, NSND Minh Thông – Trưởng phòng nghệ thuật Cục NTBD, thành viên Hội đồng giám khảo cuộc thi cho biết: “So với các lần trước thì trình độ thí sinh tham dự cuộc thi lần này đạt tới đỉnh cao hơn hẳn. Nhiều thí sinh mạnh dạn chọn múa solo. Đặc biệt, ở cuộc thi này, lần đầu tiên có thí sinh thể hiện tốt dòng múa pas de deux – một dòng ballet cổ điển đỉnh cao đòi hỏi sự khổ luyện và kĩ thuật xuất sắc. Các thí sinh như Quỳnh Chi và Thế Phương (Vũ đoàn Arabesque), Phạm Thế Chung (Trường Múa TP.HCM) đã đạt được những điều này. Đây là một tín hiệu vui khẳng định sự tự tin và tài năng của các diễn viên trẻ”.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên trao giải cho các cá nhân đạt Huy chương Vàng
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên trao giải cho các cá nhân đạt Huy chương Vàng

Những khoảng trống

Trong số 15 đơn vị nghệ thuật có thí sinh tham dự cuộc thi lần này, ba đơn vị có lực lượng hùng hậu nhất đều là ba cơ sở đào tạo múa lớn trong cả nước: Trường Múa Việt Nam, Đại học VHNT Quân đội, Trường Múa TP.HCM. Điều này cũng không có gì bất ngờ vì những nôi đào tạo luôn có lực lượng trẻ đông vượt trội so với các đoàn nghệ thuật. Tuy nhiên, sự vắng bóng gần như hoàn toàn của các đơn vị nghệ thuật lớn, từng có thương hiệu về múa như Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch VN, Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch TP.HCM và một số tỉnh trung du và miền núi như Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Đắk Lắk… cùng nhiều tỉnh thành khác đã tạo nên một thiếu hụt lớn cho cuộc thi. Có lẽ, 9 năm gián đoạn và sự thiếu vắng sân chơi dành cho nghệ thuật múa đã tạo nên khoảng trống không nhỏ này.

“Tuổi nghề của một diễn viên múa rất ngắn nên 9 năm là một quãng thời gian quá dài với họ. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến không khí làm nghề và nhu cầu sáng tạo của diễn viên. Tất nhiên các cháu vẫn có thể đi biểu diễn chạy “sô” ở bên ngoài, nhưng rất ít có cơ hội để diễn những tác phẩm có yếu tố chuyên môn cao. Bên cạnh đó, nhiều diễn viên cũng bị thiệt thòi trong việc xét tặng các danh hiệu vì không có cơ hội để thi thố thì sẽ không có huy chương. Mong rằng từ nay trở đi, cuộc thi này sẽ được tổ chức thường xuyên và đều đặn hơn để thúc đẩy sự phát triển của múa”, một khán giả là người nhà của thí sinh chia sẻ bên lề cuộc thi. Đây có lẽ cũng chính là mong mỏi chung của những ai quan tâm đến nghệ thuật múa Việt Nam.

(Nguồn: Báo Điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam – 25 năm đào tạo tiến sĩ văn hóa – nghệ thuật

VH- Từ năm 1991 đến nay, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đã có một quá trình 25 năm đào tạo tiến sĩ. 25 năm không phải là một quá trình quá dài nhưng đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Bộ VHTTDL.

Văn hóa nghệ thuật là một lĩnh vực hết sức quan trọng và nhạy cảm đối với sự phát triển đất nước. Để tạo nền tảng cho sự phát triển này, Việt Nam cần có một đội ngũ trí thức dẫn dắt sự sáng tạo văn hóa nghệ thuật. Trong nhiều năm qua, hoạt động đào tạo trí thức bậc cao này gặp rất nhiều khó khăn. Một trong những lý do quan trọng nhất là hoạt động đào tạo tiến sĩ – những người thầy, máy cái của một nền học vấn gặp nhiều khó khăn. Sự khó khăn này càng trở nên cấp bách khi các qui định đào tạo của Bộ GD&ĐT ngày càng khắt khe hơn để nâng cao chất lượng đào tạo đại học, khiến cho đội ngũ cán bộ cơ hữu của các trường văn hóa nghệ thuật trên cả nước lâm vào khó khăn nghiêm trọng do thiếu đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ. Nhiều trường đối mặt với tình trạng không đủ điều kiện để đạt chuẩn trường đại học; một số trường không đủ tiêu chuẩn để nâng cấp từ cao đẳng lên đại học văn hóa nghệ thuật, nhiều ngành học trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật quan trọng của đất nước, trong đó có những ngành giúp khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc như kịch hát dân tộc (tuồng, chèo, cải lương), mỹ thuật truyền thống… có khả năng dừng tuyển sinh, không được phép đào tạo do thiếu một tiêu chuẩn chung: Không đủ giảng viên có trình độ tiến sĩ. Áp lực và trách nhiệm này đè nặng lên hoạt động đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam khi Viện là cơ sở đào tạo tiến sĩ duy nhất của ngành cho tới thời điểm năm 2013, khi một số trường ĐH thuộc Bộ VHTTDL mở mã ngành đào tạo tiến sĩ.

Là cơ sở đào tạo tiến sĩ đầu tiên của ngành văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đã tự tìm cách học tập kinh nghiệm, xây dựng nên các chương trình đào tạo tiến sĩ văn hóa nghệ thuật cho cả nước. Trong bối cảnh nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành gặp rất nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực bổ sung từ các nước xã hội chủ nghĩa (vốn là nơi đào tạo tiến sĩ chính), ngay từ năm 1991, được sự đồng ý của Chính phủ, Viện được phép đào tạo nghiên cứu sinh với hai chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật và chuyên ngành Nghệ thuật Âm nhạc (Năm 2000, chuyên ngành Nghệ thuật Âm nhạc được chuyển về Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam đào tạo). Năm 2003, Bộ GD&ĐT ban hành danh mục các chuyên ngành đào tạo tiến sĩ mới. Viện đã được Bộ GD&ĐT cho phép mở sáu chuyên ngành đào tạo: Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Quản lý văn hóa thuộc khoa Văn hóa học; Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình thuộc khoa học Nghệ thuật. Những chuyên ngành này đều là những chuyên ngành đầu tiên được phép đào tạo tại Việt Nam tại thời điểm đó. Viện đã tiến hành xây dựng hệ thống chương trình, đào tạo đội ngũ, tạo nền tảng cho việc đào tạo nguồn nhân lực có học vị cao nhất về văn hóa nghệ thuật cho nước nhà.

Là người mở đường, hoạt động đào tạo của Viện gặp rất nhiều khó khăn, từ giảng viên (vừa tự tạo nguồn cho chính Viện, vừa mời các giảng viên trong và ngoài nước, đặc biệt là các giảng viên ngoài nước từ Anh, Mỹ, Pháp, Bỉ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc…), chương trình đào tạo (cho hai mã ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, Nghệ thuật Âm nhạc), và sau này là sáu mã ngành (Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Quản lý văn hóa, Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình), tới việc lựa chọn đối tượng đào tạo, vượt qua những khó khăn do kinh phí luôn luôn thấp hơn so với thực tế đào tạo, và đòi hỏi về chất lượng đào tạo tiến sĩ ngày càng cao của xã hội.

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là cơ sở đào tạo tiến sĩ có bề dày kinh nghiệm đào tạo tiến sĩ, trong đó có kinh nghiệm đào tạo nghiên cứu sinh đến từ các nước trong khu vực và trên thế giới. Viện cũng tiếp nhận một số nghiên cứu sinh, thực tập sinh từ các nước Pháp, Ý, Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc, Lào sang học tập và nghiên cứu tại Viện. Tính đến tháng 7.2017, Viện đã và đang đào tạo 20 khóa nghiên cứu sinh các chuyên ngành thuộc khoa Văn hoá học và khoa Nghệ thuật học gồm 326 nghiên cứu sinh, trong đó đã có 153 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Cho đến nay, rất nhiều hiệu trưởng các trường cao đẳng, đại học văn hóa nghệ thuật trên cả nước đã và đang là nghiên cứu sinh của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Những cán bộ được đào tạo tại Viện đã và đang phát huy tốt vai trò của một tiến sĩ chuyên ngành trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật của ngành, tiêu biểu như: GS.TS Ngô Văn Thành, nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia VN; PGS.TS Nguyễn Phúc Linh, nguyên Phó Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam; PGS.TS Trần Văn Ánh, nguyên Hiệu trưởng Đại học Văn hóa TP.HCM; PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM; PGS.TS Lâm Nhân, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM; PGS.TS Đỗ Lai Thúy, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; PGS.TS Nguyễn Văn Cương, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; TS Phạm Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; TS Vũ Mạnh Hà, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh; TS Vũ Phương Hậu, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển; PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực III; PGS.TS Văn Thị Minh Hương, nguyên Giám đốc Nhạc viện TP.HCM; PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Phó Giám đốc Nhạc viện TP.HCM; PGS.TS Phan Bích Hà, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh TP.HCM; TS Nguyễn Văn Tình, nguyên Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế; TS Ngô Phương Lan, Cục trưởng Cục Điện ảnh; PGS.TS Huỳnh Văn Tới, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đồng Nai; TS Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi; TS Phan Quốc Anh, nguyên Giám đốc Sở VHTTDL Ninh Thuận; PGS.TS Phan Thanh Bình, Hiệu trưởng Đại học Nghệ thuật Huế; PGS.TS Lê Văn Sửu, Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật Việt Nam; TS Trương Phi Đức, Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP.HCM; PGS.TS Nguyễn Xuân Tiên, Phó Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP.HCM; TS Nguyễn Văn Minh, Phó Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP.HCM; PGS.TS Vũ Ngọc Thanh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh TP.HCM; TS Nguyễn Khắc Khanh, Thiếu tướng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh; TS Lê Thị Minh Lý, nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa; PGS.TS Nguyễn Văn Cần, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; TS Hoàng Minh Khánh, Hiệu trưởng Trường Trung học Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam; TS Phạm Bá Toàn, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội; TS Hoàng Thị Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; PGS.TS Triệu Thế Hùng, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội…

Công tác đào tạo của Viện đã xây dựng được quy trình cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ. Chất lượng đào tạo luôn được cơ sở đào tạo đặt lên hàng đầu. Đội ngũ giảng viên của Viện từ chỉ năm tiến sĩ giai đoạn đầu thì đến năm 2017 đã có ba giáo sư, chín phó giáo sư, 19 tiến sĩ, về cơ bản có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý và đều là những cán bộ khoa học đầu ngành của Bộ VHTTDL. Viện có đội ngũ giảng viên có học hàm học vị được đào tạo từ các nước: Nga, Mỹ, Anh, Úc, có trình độ chuyên môn tốt, có ngoại ngữ, đáp ứng một phần những nhu cầu của thực tế. Để nâng cao chất lượng đào tạo, Viện đã mời một số các nhà khoa học nước ngoài từ Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Nhật Bản, Philippines, Đức, Thái Lan, Lào, Trung Quốc… tới Viện tham gia nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn luận án, phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh.

Công việc xây dựng chương trình, nội dung các chuyên đề đào tạo tiến sĩ được đặc biệt chú trọng. Viện đã tranh thủ sự tài trợ của quỹ Ford để xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ cho chuyên ngành Văn hóa học. Một số các công trình kinh điển của khoa học văn hóa như các công trình của B. Mali¬nowski (1884-1942), A.L.Kroeber (1876-1942), Leslie A.White (1900-1975), v.v… đã được dịch ra tiếng Việt làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu viên và nghiên cứu sinh của Viện.

Bên cạnh hoạt động đào tạo, Viện cũng chú trọng đến hoạt động của hội đồng xét chức danh giáo sư, phó giáo sư cấp cơ sở. Viện đã tổ chức hội đồng xét chức danh GS cấp cơ sở từ năm 2009 và xét liên tục hằng năm từ năm 2011 đến nay. Nhiều nghiên cứu sinh của Viện sau khi tốt nghiệp nhận được học vị tiến sĩ, khi đủ điều kiện đã trở lại cơ sở đào tạo làm nhiệm vụ giảng dạy và hướng dẫn khoa học cho các nghiên cứu sinh khóa sau và đăng ký xét học hàm giáo sư, phó giáo sư. Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở Viện luôn luôn là hội đồng có số ứng viên xét học hàm cao nhất trong tất cả các hội đồng cơ sở thuộc liên ngành Văn hóa, Nghệ thuật, Thể dục – Thể thao.

Nhìn lại chặng đường 25 năm đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, có thể nói, các thế hệ nhà khoa học và giảng viên của Viện đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành văn hóa. Ghi nhận những đóng góp này, năm 2017, Viện đã vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Đây là sự ghi nhận những đóng góp đối với sự nghiệp đào tạo của Viện, là nguồn cổ vũ to lớn đối với đội ngũ giảng viên và các nhà nghiên cứu tại Viện, cũng như các giảng viên thỉnh giảng trong và ngoài nước của Viện. Để đáp ứng với vinh dự đó, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam luôn cố gắng hết sức mình để trở thành một cơ sở đào tạo và nghiên cứu tư vấn chính sách có uy tín của Bộ VHTTDL, ngang tầm với các viện nghiên cứu trong khu vực.

(Nguồn: PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam)

Khai mạc Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào 2017

VH- Chiều 17.7 tại Cung Văn hóa quốc gia Lào đã diễn ra Lễ Khai mạc Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào 2017.

Tới dự có ông Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước; bà Tòng Thị Phóng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cùng nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các các Bộ ngành của hai nước.

Phát biểu tại Lễ Khai mạc, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Việt Nam Nguyễn Ngọc Thiện chia sẻ, mối quan hệ đoàn kết mẫu mực thủy chung, đậm nghĩa nặng tình gắn bó đặc biệt giữa hai đất nước, hai dân tộc anh em đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong kính yêu cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công gây dựng, gìn giữ và vun đắp đã không ngừng phát triển trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là quy luật sống còn, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của hai dân tộc Việt Nam và Lào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long”.

Còn Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã nhiều lần khẳng định: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào Việt mãi mãi vững bền hơn núi hơn sông”. Ngày nay quan hệ giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển, mối quan hệ hợp tác đã đi vào cả chiều sâu và chiều rộng, đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục… Sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ và các địa phương của Việt Nam và Lào luôn được tăng cường, có kết quả, hiệu quả thiết thực, mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân hai nước Việt Nam và Lào.

Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện nhấn mạnh, Những ngày Văn hóa, Du lịch Lào tại Việt Nam và Những ngày Văn hóa, Du lịch Việt Nam tại Lào được tổ chức thường niên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quảng bá, giới thiệu văn hóa, thúc đẩy tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, góp phần phát triển KT-XH của mỗi nước.

Bộ trưởng Bộ VHTTDLV Nguyễn Ngọc Thiện phát biểu tại Lễ khai mạc
Bộ trưởng Bộ VHTTDLV Nguyễn Ngọc Thiện phát biểu tại Lễ khai mạc
Bộ trưởng Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào Bosengkham Vongdala
Bộ trưởng Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào Bosengkham Vongdala phát biểu tại lễ khai mạc
Phó Chủ tịch QH Tòng Thị Phóng và Chủ tịch Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước Saysomphone Phomvihane cắt băng Khai mạc Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào 2017
Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và Chủ tịch Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước Saysomphone Phomvihane cắt băng Khai mạc Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào 2017

Năm 2017, Bộ VHTTDL Việt Nam phối hợp với Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào tổ chức Những ngày Văn hóa, Du lịch Việt Nam tại Lào với mong muốn giới thiệu tới nhân dân Lào anh em vẻ đẹp Việt Nam thông qua các tác phẩm về phong cảnh, văn hóa, con người, đặc biệt là các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh vào danh mục di sản thế giới cùng các hiện vật văn hóa đặc trưng của Việt Nam, giới thiệu những chương trình biểu diễn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc Việt Nam, các hoạt động giới thiệu xúc tiến du lịch chung Việt Nam – Lào nhằm quảng bá tiềm năng du lịch của hai nước.

Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện tin tưởng việc tổ chức đồng thời Những ngày Văn hóa, Du lịch Lào tại Việt Nam cũng như Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào năm 2017 nhân sự kiện trọng đại trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục góp phần củng cố, tăng cường quan hệ truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào.

Trong phát biểu đáp từ, ông Bosengkham Vongdala, Bộ trưởng Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào xúc động cho biết, Những ngày Văn hóa và Du lịch Việt Nam tại Thủ đô Viêng Chăn lần này được bắt đầu bằng triển lãm giới thiệu về phong cảnh chung của đất nước Việt Nam cùng với những thành tích to lớn trong công cuộc giữ gìn bảo vệ và xây dựng đất nước của mình dưới dự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Cùng với triển lãm ảnh, công chúng Lào còn được thưởng thức chương trình biểu diễn nghệ thuật của các nghệ sĩ Việt Nam, trình diễn với tất cả tấm lòng, tình cảm thân thiết và tình đoàn kết yêu quý như anh em một nhà. Những ngày Văn hóa được tổ chức đồng thời ở cả hai nước trong cùng một khoảng thời gian đã thể hiện cho thấy tình hữu nghị to lớn, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào anh em trong suốt thời gian qua cũng như ngày nay.

Sau bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào, ông Saysomphone Phomvihane và bà Tòng Thị Phóng đã cắt băng khai mạc Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào 2017 và tham quan triển lãm “Sắc màu Việt Nam” cùng triển lãm sách.

Giải quyết những vấn đề “nóng” của nghệ thuật biểu diễn

VH- Quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn phải khắc phục những hạn chế và xây dựng Nghị định mới về quản lý nghệ thuật biểu diễn nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho các loại hình nghệ thuật phát triển; Các đơn vị nghệ thuật phải tự làm mới mình ngay từ việc xây dựng tác phẩm. Điều chỉnh lại thời hạn cấp phép cho chương trình nghệ thuật…

 Đây là những nhiệm vụ trọng tâm của ngành nghệ thuật biểu diễn được ưu tiên giải quyết đã được Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên chỉ đạo tại Hội nghị sơ kết công tác nghệ thuật biểu diễn 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017.

Trong công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm, Cục NTBD đã có văn bản gửi Sở VHTTDL, Sở VHTT các tỉnh/ thành đề nghị tăng cường công tác quản lý hoạt động NTBD, trong đó tập trung vào các nội dung như: Thẩm định thành phần hồ sơ, nội dung chương trình trước khi cấp Giấy phép tổ chức biểu diễn, trình diễn thời trang; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trước và sau khi kết thúc các chương trình đã được cấp phép biểu diễn, xử lý nghiêm các vi phạm của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Qua đường dây nóng và phản ánh của dư luận báo chí, Cục NTBD đã phát hiện kịp thời đề nghị Thanh tra Sở VHTTDL, Sở VHTT một số tỉnh/thành phố kiểm tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong hoạt động NTBD.

Về công tác phát triển sự nghiệp, Cục NTBD cũng đã phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các Hội VHNT chuyên ngành từ TƯ đến địa phương để triển khai một số công tác cụ thể: Triển khai kế hoạch tuyển sinh diễn viên, nhạc công Cải lương và Dân ca Kịch năm 2017; Tổ chức Lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp, người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu” tại Hà Nội và TP.HCM: Lớp bồi dưỡng kiến thức Định hướng và Chỉ đạo nghệ thuật; Triển khai đặt hàng tác phẩm đối với các đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ…

Phát biểu tại Hội nghị, đại diện Nhà hát Kịch VN, Nhà hát Tuổi Trẻ, Nhà hát Tuồng VN đã ghi nhận những nỗ lực của Cục NTBD ở vai trò quản lý nhà nước đã tạo nên những chuyển biến rõ rệt của ngành. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng đặt ra một số vấn đề mà quản lý nhà nước cần quan tâm giải quyết như: Cần có văn bản điều chỉnh rõ ràng với các chương trình, vở diễn không thay đổi nội dung thì không phải xin cấp phép lại; Có đề án đào tạo biên kịch sân khấu để bổ sung nguồn kịch bản cho các đơn vị nghệ thuật; Trẻ hóa ban giám khảo tại các cuộc thi, liên hoan NTCN toàn quốc để có được những quan điểm cởi mở hơn cho các yếu tố sáng tạo nghệ thuật mới; Có quy định cụ thể cho việc nâng hạn, nâng ngạch lương riêng cho nghệ sĩ không thể áp dụng chung với các đối tượng khác trong Luật Viên chức; Việc đào tạo theo đề án đào tạo kết hợp giữa các nhà hát và các cơ sở đào tạo của Bộ cần phải được nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập…

Lắng nghe các ý kiến đóng góp của đại diện các nhà hát và một số cán bộ của Cục NTBD, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Vương Duy Biên cho biết trong thời gian tới Bộ VHTTDL sẽ chỉ đạo và có biện pháp thực hiện để làm sao giải quyết thấu đáo những vấn đề vướng mắc của ngành NTBD trong đó có các ý kiến mà các nhà hát đã nêu ra tại Hội nghị. Ngay như việc cấp phép một tác phẩm sân khấu, có thể điều chỉnh theo hướng bỏ luôn cấp phép đối với các nhà hát của Bộ bởi lẽ Hội đồng nghệ thuật của Cục NTBD đã xuống tận từng nhà hát để xem duyệt các chương trình mới và sau những đóng góp, chỉnh sửa sẽ có biên bản. Biên bản đó có thể coi như là sự đồng ý cho công diễn rồi thì không cần tới thủ tục xin cấp phép sau đó nữa.

Việc quan trọng đối với ngành NTBD là tạo nên những tác phẩm nghệ thuật hay, hấp dẫn khán giả. Thứ trưởng Vương Duy Biên nhấn mạnh: “Các đơn vị nghệ thuật, các nhà hát phải thay đổi và làm mới mình và bản thân hội đồng nghệ thuật duyệt vở cũng cần phải thay đổi cách đánh giá. Bởi trên thực tế không phải vở diễn, tác phẩm nào hội đồng nghệ thuật thấy tốt là đã bán được vé. Nghệ thuật là phải đến được với công chúng và muốn đến với công chúng thì phải thỏa mãn được yếu tố hấp dẫn. Sẽ khó kéo được cả một gia đình người dân thường đi xem nếu tác phẩm cứ rao giảng đạo đức, nặng nề mà thiếu đi yếu tố giải trí, giúp người dân xả stress. Các nhà hát hiện nay hoàn toàn chủ động về việc lựa chọn kịch bản và xây dựng tác phẩm, vì vậy việc xây dựng làm sao để tác phẩm hấp dẫn tùy thuộc vào chính bản thân sự nỗ lực của từng nhà hát. Cục NTBD chỉ có trách nhiệm hậu kiểm để xem vở diễn nào có vấn đề thì mới nhắc nhở, không có chuyện gây khó dễ gì. Mặt khác, các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật cũng như Cục NTBD cần phải làm ngay đó là phải có chiến lược truyền thông đối với các tác phẩm, các chương trình nghệ thuật”.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm mà Cục NTBD tập trung là phải khắc phục những hạn chế và xây dựng Nghị định mới về quản lý nghệ thuật biểu diễn trên cơ sở Nghị định 79 và Nghị định 15 nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho các loại hình nghệ thuật phát triển.

“6 tháng cuối năm 2017 sẽ có nhiều cuộc thi, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quốc được tổ chức: Liên hoan độc tấu và hòa tấu nhạc cụ dân tộc 2017, Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên Kịch nói; Triển khai tổ chức các cuộc thi sắp tới như Cuộc thi tài năng biểu diễn Múa 2017; Cuộc thi tài năng diễn viên trẻ sân khấu Tuồng và Chèo 2017; Liên hoan các ban, nhóm nhạc toàn quốc 2017; Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên sân khấu Cải lương và Dân ca 2017; Liên hoan nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 50 năm thành lập Khối ASEAN”.

(Nguồn: Báo Điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch Việt – Lào

Ngày hội là dịp để đồng bào, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào ôn lại truyền thống cách mạng, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou và đại biểu hai nước giao lưu vòng xòe truyền thống. Ảnh: TTXVN
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou và đại biểu hai nước giao lưu vòng xòe truyền thống. Ảnh: TTXVN

Tối 5/7, tại TP. Sơn La, Bộ VHTT&DL phối hợp với tỉnh Sơn La tổ chức lễ khai mạc Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Lào lần thứ 2 năm 2017.

Đây là hoạt động trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962-5/9/2017) và 40 năm Ngày ký kết Hiệp ước Hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Lào (18/7/1977-18/7/2017).

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương hai nước Việt Nam, Lào; lãnh đạo các tỉnh của hai nước Việt Nam, Lào và đông đảo nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La dự lễ khai mạc.

Các tiết mục biểu diễn văn nghệ chào mừng Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Lào. Ảnh: TTXVN
06 Các tiết mục biểu diễn văn nghệ chào mừng Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Lào. Ảnh: TTXVN

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Nguyễn Ngọc Thiện cho biết, các hoạt động trong khuôn khổ Ngày hội diễn ra với nhiều nội dung đa dạng, phong phú và sinh động, như: Giới thiệu, quảng bá sản phẩm văn hóa, du lịch; triển lãm, giới thiệu ảnh nghệ thuật về con người và tiềm năng 10 tỉnh của Việt Nam có chung tuyến biên giới Việt Nam-Lào; liên hoan văn nghệ quần chúng và trình diễn trang phục truyền thống dân tộc; giới thiệu lễ hội nghi thức, sinh hoạt văn hóa của đồng bào nhân dân các dân tộc có chung đường biên giới Việt Nam-Lào…

Ngày hội là dịp để đồng bào, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào ôn lại truyền thống cách mạng, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào.

Đây còn là cơ hội để giới thiệu, quảng bá về tiềm năng, thế mạnh phát triển văn hóa, thể thao, du lịch và di sản văn hóa các dân tộc vùng biên giới hai nước Việt Nam, Lào trong công cuộc hội nhập và phát triển.

Các hoạt động trong khuôn khổ của Ngày hội do các già làng, trưởng bản và đồng bào nhân dân các dân tộc vùng biên giới hai nước Việt Nam, Lào thể hiện có sức lan tỏa mạnh mẽ; là sự hội tụ, tỏa sáng về nét đẹp của các giá trị văn hóa truyền thống, giàu bản sắc, chắc chắn sẽ để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách, bạn bè trong nước và quốc tế về hình ảnh đất nước, con người, tình đoàn kết, hữu nghị hợp tác hai nước Việt Nam, Lào.

Phát biểu chào mừng, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh nhấn mạnh: Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Lào lần thứ II là nơi tôn vinh, quảng bá, giới thiệu với nhân dân các dân tộc trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế một cách tổng quát về lịch sử đấu tranh, những giá trị văn hóa dân gian đầy tính nhân văn của nhân dân hai nước.

Đặc biệt là tinh thần đoàn kết, hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam được phát triển từ quan hệ truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người đã cùng đồng chí Kaysone Phomvihane, đồng chí Souphanouvong và các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp.

Sau phần lễ là chương trình nghệ thuật với chủ đề “Bài ca hữu nghị Việt-Lào” gồm 3 chương được xây dựng công phu, hoành tráng, quy mô theo hình thức bán sử thi thông qua ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật ca múa nhạc phối hợp với lời bình, hình ảnh phim tư liệu.

Trong đó, chương I “Nghĩa tình son sắc thủy chung” đã khái quát lại toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển mối quan hệ hữu nghị hai nước Việt Nam, Lào từ ngày đầu cho đến nay trên tất cả các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.

“Thắm tình biên giới Việt Nam-Lào” là nội dung chương II giới thiệu về mảnh đất, con người Sơn La trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hôm nay. Đồng thời, thể hiện thế mạnh, tiềm năng phát triển văn hóa, thể thao và du lịch của đồng bào các dân tộc vùng biên giới cũng như nhân dân hai nước Việt Nam, Lào; tình nghĩa gắn bó keo sơn của đồng bào các dân tộc vùng biên giới, cùng nhau đoàn kết, xây dựng tuyến biên giới Việt Nam-Lào hòa bình, hữu nghị và bền vững.

Khép lại chương trình nghệ thuật là chương III “Việt-Lào chung bước tương lai” tiếp tục khẳng định tình đoàn kết hữu nghị truyền thống lâu đời, sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Lào; khẳng định quan điểm, đường lối, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước.

* Trước đó, chiều 5/7, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã thắp hương tại Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Nhà tù Sơn La nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La.

Cũng chiều 5/7, Thường trực Tỉnh ủy Sơn La đã gặp mặt Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Lào tại Việt Nam Thongsavanh Phomvihane; các đoàn đại biểu cấp cao của 16 tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến thăm và dự các sự kiện “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào” tại Sơn La.

Theo TTXVN/Chinhphu

Tháng nghệ thuật truyền thống tại Nhà hát Lớn: Nhiều ấn tượng đẹp

VH- Hai chương trình của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Huế đã khép lại Tháng nghệ thuật truyền thống trong chuỗi chương trình biểu diễn những tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao từ Nhà hát Lớn.

Các tác phẩm được công diễn trong tháng 5 và tháng 6.2017 đã một lần nữa khẳng định thương hiệu Nhà hát Lớn Hà Nội – không gian văn hóa sang trọng bậc nhất của Thủ đô, địa chỉ đỏ để khán giả VN và quốc tế thưởng thức các chương trình nghệ thuật, tác phẩm sân khấu chất lượng cao, tiêu biểu.

Theo chủ trương của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Ngọc Thiện với chủ điểm nghệ thuật truyền thống trong tháng 5, theo đó không chỉ các nhà hát thuộc Bộ mà các nhà hát tại địa phương đã tích cực tham gia biểu diễn gồm: Nhà hát Cải lương Việt Nam diễn vào tối 4 và 5.5 (Cung phi Điểm Bích, Hừng đông), Nhà hát Múa rối VN diễn vào tối 6 và 7.5 (Aladanh và cây đèn thần, Tôn Ngộ Không 3 lần đánh Bạch Cốt Tinh), Nhà hát Chèo VN diễn vào tối 24.5, 28.5 (Súy Vân, Dây tràng hạt diệu kỳ), Nhà hát Tuồng VN diễn vào tối 26.5 (Hồ Quý Ly), Nhà hát Chèo Hà Nội diễn vào tối 27.5 (Vương nữ Mê Linh), Nhà hát Chèo Nam Định diễn vào tối 31.5 (Không phải là vụ án), Nhà hát nghệ thuật ca kịch Huế diễn vào tối 22.6 (Vụ án Lệ Chi Viên), tối 23.6 (Dòng sông đỏ). Như vậy, các thể loại sân khấu truyền thống đặc sắc là cải lương, tuồng, chèo, múa rối, ca kịch Huế đã lần lượt được đưa vào công diễn tại Nhà hát Lớn.

Vở chèo "Dây tràng hạt diệu kỳ" (Nhà hát Chèo Việt Nam)
Vở chèo “Dây tràng hạt diệu kỳ” (Nhà hát Chèo Việt Nam)

Điều ghi nhận lớn nhất của Tháng nghệ thuật truyền thống biểu diễn tại Nhà hát Lớn là sức hút của các vở diễn đối với khán giả thủ đô Hà Nội và du khách. Tất cả các vở diễn được lựa chọn đều được các đơn vị nghệ thuật lựa chọn kỹ càng, đầu tư nâng cao công phu với đội ngũ diễn viên trẻ tài năng. Không nườm nượp đông như các show diễn nghệ thuật giải trí, hiện đại nhưng khán giả đến với nghệ thuật truyền thống phần lớn là những khán giả trung thành, yêu quý và trân trọng nghệ thuật truyền thống.

Vở cải lương "Hừng đông" (Nhà hát Cải lương Việt Nam)
Vở cải lương “Hừng đông” (Nhà hát Cải lương Việt Nam)

Bên cạnh những vở đề tài lịch sử, dã sử, mảnh đất thuận cho sân khấu truyền thống thì các vở diễn về đề tài cách mạng, về xã hội hiện đại cũng rất hay, rất hấp dẫn. Giữ nguyên vẹn những giá trị đặc trưng của sân khấu tuồng, chèo, cải lương, ca kịch Huế… nhưng các vở diễn của các Nhà hát Cải lương VN, Nhà hát Chèo VN, Nhà hát Tuồng VN, Nhà hát Chèo Nam Định, Nhà hát nghệ thuật ca kịch Huế… mang đầy tính thời đại từ cách khai thác đề tài cho tới phong cách dàn dựng, biểu diễn của nghệ sĩ. Tạo nên một sinh khí, một diện mạo cho sân khấu truyền thống hôm nay phải kể tới sự đóng góp của các đạo diễn trẻ như NSND Hoàng Quỳnh Mai, NSND Nguyễn Tiến Dũng, NSƯT Triệu Trung Kiên, Lê Tuấn Cường…

Vở chèo "Súy Vân" (Nhà hát Chèo Việt Nam)
Vở chèo “Súy Vân” (Nhà hát Chèo Việt Nam)

Những vở diễn sân khấu truyền thống kinh điển như Suý Vân, Hồ Quý Ly của các đạo diễn NSND nổi tiếng tên tuổi như Trần Bảng, Đình Quang… đã từng vang bóng một thời được phục dựng vẫn còn nhiều giá trị thời sự. Trong đợt diễn này sự xuất hiện của các đơn vị nghệ thuật địa phương như Nhà hát nghệ thuật truyền thống Huế, Nhà hát Chèo Nam Định cũng đã tạo dấu ấn tốt với khán giả và đồng nghiệp bởi những đặc trưng nghệ thuật truyền thống riêng của địa phương.

Từ những tác phẩm sân khấu truyền thống cũng nổi lên một thế hệ nghệ sĩ trẻ có tài năng, có bản lĩnh nghề nghiệp và tự tin khi đảm nhiệm những vai diễn chính của từng đơn vị, được ghi nhận ở hàng loạt các tên tuổi như: Quang Khải, Minh Lý, Minh Hải, Đoàn Hoa Mai, Hoàng Tùng (Nhà hát Cải lương Việt Nam), Kim Liên, Tuấn Tài, (Nhà hát Chèo VN), Lộc Huyền, Vũ Linh, Đức Anh (Nhà hát Tuồng VN), NSƯT Hoài Thu, NSƯT Thảo Quyền, Quốc Phòng (Nhà hát Chèo Hà Nội)… Riêng với các nghệ sĩ của Nhà hát Múa rối VN thì khó có thể quên được hạnh phúc khi ngắm nhìn cảnh khán giả nô nức vào xem múa rối tại Nhà hát Lớn. Trên fanpage, trên facebook của nhà hát cũng như các nghệ sĩ tham gia biểu diễn đều ngập tràn những lời cảm ơn, những chia sẻ đầy chân tình của khán giả với người nghệ sĩ sân khấu truyền thống.

NSƯT Triệu Trung Kiên, Phó giám đốc Nhà hát Cải lương VN, đạo diễn vở cải lương Hừng đông chia sẻ: “Hơn một tháng nghệ thuật truyền thống được tôn vinh ở Nhà hát Lớn Hà Nội đã mang lại hiệu quả rất lớn đối với nghệ sĩ sân khấu truyền thống. Cơ hội được diễn ở một sân khấu lý tưởng như Nhà hát Lớn đã khiến mỗi đơn vị, mỗi nhà hát phải tự nâng tầm tác phẩm của mình lên, đạo diễn chỉnh sửa gia công dàn dựng kỹ lưỡng hơn, nghệ sĩ chăm chút cho vai diễn… Đây là sự khởi đầu, bệ phóng cho những khao khát sáng tạo và là môi trường cho những tác phẩm có chất lượng cao. Niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nữa nếu các đêm diễn có nhiều khán giả mua vé để vào xem nhưng chúng tôi, những người lãnh đạo các nhà hát nghệ thuật truyền thống đều hiểu rằng việc bán vé chương trình nghệ thuật truyền thống luôn là thách thức của các nhà hát, không riêng các chương trình ở Nhà hát Lớn. Chủ trương bán vé xem ở Nhà hát Lớn của Bộ VHTTDL là hoàn toàn đúng nhưng chúng ta cũng phải từ từ để tạo thói quen cho khán giả có nhu cầu đi xem thì bỏ tiền mua vé.

Ông Phạm Ngọc Tuấn, Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam cho rằng: Từ trước đến giờ, Nhà hát Tuồng vẫn biểu diễn định kỳ hai buổi thứ Hai và thứ Năm tại rạp Hồng Hà nhưng chỉ có khách du lịch nước ngoài xem. Khách trong nước thì mời cũng còn ít khán giả. Vì vậy khi ra Nhà hát Lớn, tuồng khó để bán được vé cũng là điều dễ hiểu. Nghệ thuật truyền thống là vậy, dù không có khán giả vẫn phải diễn để bảo tồn. Không phải riêng chúng ta, các nước phát triển như Nhật, Hàn Quốc… nghệ thuật truyền thống cũng không thể tự sống được mà rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ. Những ghi nhận của chúng tôi trong các đêm diễn tuồng tại Nhà hát Lớn, khán giả rất thích, đây đã là một thành công đáng ghi nhận cho việc trở lại với sân khấu truyền thống nói chung, nghệ thuật tuồng nói riêng của khán giả thủ đô rồi”.

Hơn một tháng các nhà hát, các nghệ sĩ của các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật truyền thống đã được khoe tài, khoe sắc còn khán giả thì được thưởng thức một bữa tiệc nghệ thuật hấp dẫn, đó là lý do không ít khán giả chờ đón để tới với tháng 8, tháng chuyên đề những vở kịch hay nổi tiếng một thời gồm cả kinh điển thế giới và kịch hiện đại của Việt Nam. Chủ trương giới thiệu quảng bá những tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao được diễn tại Nhà hát Lớn mới chỉ ở chặng đầu nhưng rõ ràng hiệu quả đã mang lại một sinh khí mới cho nghệ thuật biểu diễn, nuôi dưỡng những cảm hứng sáng tạo cho nghệ sĩ và cảm hứng hưởng thụ nghệ thuật cho công chúng. Con đường để khẳng định vị thế của nghệ thuật chính thống, chất lượng tại một điểm diễn cố định tại Nhà hát Lớn còn dài và đòi hỏi sự nỗ lực từ ban tổ chức cho tới các đơn vị nghệ thuật và cá nhân nghệ sĩ. Nhưng rõ ràng công chúng, những người yêu mến nghệ thuật thực thụ là đối tượng được hưởng lợi nhiều từ các chương trình này khi họ đã được xem những tác phẩm nghệ thuật chất lượng tốt ở Nhà hát Lớn, một thánh đường thực thụ lý tưởng của nghệ thuật biểu diễn.

(Nguồn: Báo Điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

Chương trình biểu diễn Chào mừng kỷ niệm 105 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

Chào mừng kỷ niệm 105 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, từ ngày 26/6 đến ngày 09/7/2017, Nhà hát Chèo Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh tổ chức công diễn vở Chèo “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” phục vụ nhân dân trong tỉnh.

          Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09/7/1912, trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

          Năm 1927, khi mới 15 tuổi, đang là học sinh Trường Bưởi, đồng chí đã hăng hái tham gia các hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí bị thực dân Pháp đuổi học vì tham gia hoạt động cách mạng. Về quê, Nguyễn Văn Cừ tiếp tục chắp nối liên lạc với các đồng chí trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1928, đồng chí được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giới thiệu về hoạt động “vô sản hóa” ở mỏ than Vàng Danh.

          Năm 1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930, đồng chí cùng với Nguyễn Đức Cảnh thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên ở Mạo Khê, sau đó phát triển tổ chức cơ sở đảng trên toàn vùng mỏ, thành lập Đặc khu ủy mỏ, ra tờ báo Than.

          Ngày 15/2/1931 , trên đường đi công tác Cẩm Phả – Hồng Gai, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và đưa về giam ở Nhà tù Hoả Lò. Hội đồng đề hình Hà Nội xử đồng chí án “phát lưu chung thân” và đày ra Côn Đảo.

          Năm 1936, do áp lực của các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số tù chính trị Côn Đảo được trả tự do. Đồng chí về Hà Nội liên lạc với Đảng, lập ra”Ủy ban sáng kiến”. Tháng 7/1937, đồng chí tham gia thành lập Xứ uỷ Bắc Kỳ, khôi phục các cơ sở đảng ở Bắc Kỳ – Trung Kỳ.

          Tại Hội nghị Trung ương mở rộng tháng 9/1937, đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (3/1938), đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Nhằm đấu tranh chống bọn Tờrốtxkít và tiến hành cuộc tự phê bình và phê bình trong Đảng, chấn chỉnh những tư tưởng lệch lạc, sai trái, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích” góp phần to lớn vào việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

          Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo đưa Đảng rút vào hoạt động bí mật và tích cực chuẩn bị cho việc chuyển hướng chiến lược cách mạng.

          Tháng 11/1939, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 6, cùng Trung ương Đảng bàn và ra nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam – thời kỳ vận động giải phóng dân tộc.

          Giữa lúc phong trào cách mạng của dân tộc đang bước vào cao trào mới thì ngày 18/1/1940, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt. Ngày 28/8/1941, đồng chí bị quân thù xử bắn.

          Với 29 tuổi đời, hơn mười ba năm tham gia cách mạng, bảy năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn hai năm làm Tổng Bí thư của Đảng, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những cống hiến to lớn đối với Đảng và dân tộc ta. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, người có tầm nhìn chiến lược, một tấm gương cao đẹp về đạo đức cách mạng.

          Vở Chèo “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ” của tác giả Đào Thiện tái hiện thân thế, sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Khẳng định những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng, cách mạng Việt Nam và quê hương Bắc Ninh. Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, khơi dậy lòng tự hào quê hương đất nước cho thế hệ trẻ.

          Lịch diễn vở Chèo “Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ”:

  • Ngày 26/6: Hội trường Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Lương Tài
  • Ngày 27/6: Hội trường Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Gia Bình
  • Ngày 28/6: Sân khấu ngoài trời khu vực đường đôi, Trung tâm Văn hóa Luy Lâu, huyện Thuận Thành
  • Ngày 02/7: Sân khấu ngoài trời, khu vực đồi Lim, Thị trấn Lim (Tiên Du)
  • Ngày 03/7: Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Quế Võ
  • Ngày 04/7: Sân khấu ngoài trời, Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Yên Phong
  • Ngày 07/7: Thôn Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên (Từ Sơn)
  • Ngày 08/7: Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, xã Phù Khê (Từ Sơn)
  • Ngày 09/7: Khu vực tượng đài Lý Thái Tổ (Thành phố Bắc Ninh)

         Thời gian các buổi công diễn bắt đầu vào lúc 20h00.

         Một số hình ảnh của vở diễn:

IMG_2757IMG_2799IMG_2844IMG_2932IMG_2944
IMG_2964IMG_2946

Thủ tướng: Báo chí và doanh nghiệp cần cùng chung tay xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam

VH- Chiều 18.6, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc gặp mặt Đoàn báo chí – doanh nghiệp đồng hành cùng APEC nhân dịp kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21.6.1925-21.6.2017) do Văn phòng Chính phủ phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức.

Cùng dự có Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Thuận Hữu, Trưởng Đoàn báo chí – doanh nghiệp đồng hành cùng APEC; đại diện lãnh đạo các cơ quan thông tấn, báo chí và doanh nghiệp.

20170618224057-ttNhân dịp kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gửi lời chúc mừng đội ngũ những người làm báo trên cả nước và vui mừng trước những bước phát triển mạnh mẽ của đội ngũ làm báo, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Khẳng định Đảng, Nhà nước luôn coi trọng vai trò của báo chí, đã dành nhiều thuận lợi để báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Thủ tướng đề nghị tổ chức định kỳ hằng năm cuộc gặp mặt với báo chí – doanh nghiệp và bố trí thời gian gặp mặt dài hơn để Thủ tướng có thể trao đổi nhiều hơn với các nhà báo, doanh nghiệp. “Tôi tin tưởng rằng báo chí – doanh nghiệp sẽ mãi là những người bạn đồng hành trên bước đường hội nhập vì sự nghiệp phát triển của chính mình và phồn vinh của đất nước”, Thủ tướng bày tỏ. Điều này càng đặc biệt hơn trong thời điểm cả nước đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, cần phát huy đồng bộ mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự nghiệp đó cần sự tham gia tích cực, đồng bộ của báo chí, doanh nghiệp, với sự thay đổi mạnh mẽ hơn, tiếp cận những cái mới để truyền tải, tạo cảm hứng, góp phần định hướng mọi cá nhân, mọi cộng đồng xã hội, phát huy tinh thần, khả năng sáng tạo, cùng chung sức, chung lòng xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.

Dẫn báo cáo xếp hạng về đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2017 vừa được công bố mà theo đó, Việt Nam tăng 12 bậc, Thủ tướng nói: “Ai làm nên đổi mới sáng tạo này? Tất nhiên, có vai trò của đổi mới môi trường kinh doanh, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các cấp các ngành nhưng chính doanh nghiệp là người đổi mới sáng tạo quyết liệt, trực tiếp nhất”. Với mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020, Thủ tướng đề nghị báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời, báo chí phải đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của xã hội về thông tin, hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần thực hiện công khai, minh bạch quá trình và kết quả xử lý công việc của cơ quan hành chính nhà nước. Qua đó, góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” để hoạt động của Chính phủ, của bộ máy hành chính các cấp phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, báo chí cần thực hiện tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân” để phản ánh kịp thời, trung thực những nguyện vọng, ý kiến của người dân, truyền tải thông tin thiết thực, phù hợp với người dân. Cho rằng báo chí phải lắng nghe hơi thở của cuộc sống, Thủ tướng bày tỏ: “Cũng như một lần tôi nói là tôi tuy bận nhưng lúc nào cũng đọc báo trước khi đi làm. Nhiều vấn đề chúng ta phát hiện qua báo chí. Chính sách hình thành nên từ đây, từ kênh báo chí quan trọng”.

Báo chí và doanh nghiệp cần tích cực tham gia đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, chống tham nhũng, lãng phí. Với trí tuệ, sự tận tâm, tấm lòng ngay thẳng và tinh thần dũng cảm, các nhà báo cần vượt qua khó khăn thách thức để phản ánh những bất cập, đấu tranh phê phán những hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức. Từng tờ báo, từng phóng viên phải tự rèn luyện, giữ gìn với tinh thần là không sử dụng báo chí để đánh nhau, hại nhau, nói xấu nhau, gây mất thương hiệu và lộ bí mật.

Thủ tướng cho rằng, báo chí là cầu nối hữu hiệu giữa doanh nghiệp và Chính phủ. Báo chí không chỉ cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, phong phú, chính xác mà còn phải kịp thời phát hiện, phản biện, đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nhận ra các yếu kém, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa, tiếp tục vươn lên trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Thủ tướng cũng mong muốn báo chí cổ vũ cho việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, xây dựng thương hiệu Việt Nam, khuyến khích khởi nghiệp mà đi liền với đó là phát triển doanh nghiệp. “Có bài viết nào điều tra vì sao 4 – 5 triệu hộ cá thể không chuyển sang doanh nghiệp. Tránh thuế, tránh thủ tục hay gặp vấn đề này khác? Tôi lấy ví dụ như vậy”, Thủ tướng nói.Bên cạnh môi trường kinh doanh, Thủ tướng nhấn mạnh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là hướng đi quan trọng của các cấp, các ngành, “anh nào tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thì đáng là một tấm gương”.

Báo chí cần cổ vũ những tấm gương doanh nghiệp vượt khó; sát cánh cùng các chuyên gia kinh tế để theo dõi, phân tích tình hình kinh tế-xã hội, kịp thời đưa ra những dự báo, giúp doanh nghiệp lựa chọn được đường hướng kinh doanh đúng đắn, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển thương hiệu Việt Nam.

Báo chí và doanh nghiệp cần cùng chung tay xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, văn hóa doanh nghiệp. Nêu những tấm gương tốt, việc làm hay cho những giá trị tố đẹp, chuẩn mực văn hóa được lan tỏa sâu rộng trong xã hội, cộng đồng và mỗi gia đình.

Nhân dịp này, Thủ tướng biểu dương các doanh nghiệp tích cực làm công tác an sinh xã hội, có doanh nghiệp không phải chỉ lo kinh doanh, lợi nhuận mà mà làm vì say mê lao động, sáng tạo, đóng góp cho xã hội.

Tại buổi gặp mặt, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Trưởng đoàn Báo chí-Doanh nghiệp đồng hành cùng APEC Thuận Hữu cảm ơn sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ đối với báo chí, doanh nghiệp. Đây là nguồn động viên to lớn đối với báo chí và doanh nghiệp cả nước. Năm 2017, Việt Nam vinh dự là chủ nhà Năm APEC. Đối với giới báo chí, APEC là cơ hội hiếm có để quảng bá đất nước Việt Nam, đồng thời là cơ hội để báo chí giúp các doanh nghiệp kết nối với các bạn bè, đối tác ở khu vực và thế giới. Để tận dụng cơ hội đó, báo chí và doanh nghiệp cần sát cánh cùng nhau.

(Nguồn: Báo Điện tử Văn hóa – Bộ VHTTDL)

UNESCO Việt Nam phát huy xuất sắc vai trò cầu nối văn hóa Việt Nam với thế giới

Sáng 12/6, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đã tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập (1977-2017)

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, các nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, Phạm Gia Khiêm, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, nguyên lãnh đạo Bộ Ngoại giao qua các thời kỳ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Phạm Công Tạc, đại diện lãnh đạo nhiều tỉnh, thành, đại diện UNESCO quốc tế và đông đảo đại diện các đại sứ quán các nước tại Hà Nội… đã đến dự buổi lễ.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại buổi lễ (ảnh Minh Khánh)
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại buổi lễ (ảnh Minh Khánh)

Phát biểu của ông Lê Hoài Trung – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Ủy bản Quốc gia UNESCO Việt Nam đã nhìn lại lịch sử 40 năm của UNESCO Việt Nam: Trong 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của các cấp Bộ, ngành, tổ chức, các địa phương và nhân dân cả nước, cùng sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, thông tin và truyền thông.

Ủy ban quốc gia UNESCO đã tranh thủ sự giúp đỡ của UNESCO trong việc tiếp cận với kiến thức, kinh nghiệm và các nguồn hỗ trợ quốc tế về tài chính, kỹ thuật để phục vụ công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước; cũng như hỗ trợ xây dựng các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp cho việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trong các lĩnh vực liên quan….

Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đã góp phần hiệu quả trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với thế giới thông qua việc gây dựng và vận động thành công được UNESCO công nhận 35 danh hiệu di sản… Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam cũng đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và tại UNESCO nói riêng. Việt Nam nhiều lần được tín nhiệm bầu vào các cơ quan chuyên môn quan trọng của UNESCO như 04 lần đảm nhiệm vai trò Hội đồng chấp hành; Thành viên Ủy ban Di sản thế giới, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản Văn hóa phi vật thể, Ủy ban liên Chính phủ bảo vệ và Phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa…Tại diễn đàn UNESCO, UNESCO Việt Nam cũng thể hiện là một thành viên tích cực, có trách nhiệm và khẳng định vai trò là kênh ngoại giao đa phương hữu hiệu, góp phần nâng cao vị thế đất nước.

Bà Đặng Thị Bích Liên - Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Văn hóa phát biểu tại buổi lễ (ảnh Minh Khánh)
Bà Đặng Thị Bích Liên – Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Văn hóa phát biểu tại buổi lễ (ảnh Minh Khánh)

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên, Phó Chủ tịch Ủy ban UNESCO Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Văn hóa cho biết: Trong thời gian tới, để hợp tác UNESCO ngày càng hiệu quả và thực chất, Tiểu ban Văn hóa tập trung thực  hiện và đề xuất một số công việc như: Tiếp tục thực  hiện tốt vài trò, đóng góp của Việt Nam tại các Công ước, cơ quan chuyên môn của UNESCO, tăng cường tính chủ động, đề xuất các sáng kiến, góp phần xây dựng những quy tắc, chuẩn mực quốc tế mới; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý, cơ chế chính sách phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; Mở rộng hợp tác có chiều sâu với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, các cơ quan tổ chức của UNESCO, các Ban, Bộ. ngành địa phương trong nước trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; Nâng cao chất lượng đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn…

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam (ảnh Minh Khánh)
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam (ảnh Minh Khánh)

Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh chúc mừng những thành tựu đã đạt được của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và khẳng định: Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đóng vai trò then chốt trong tiến trình hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam với UNESCO, được thể hiện rõ nét thông qua việc triển khai thành công nhiều chương trình của UNESCO tại Việt Nam. Ủy ban đã tranh thủ sự giúp đỡ của UNESCO trong việc tiếp cận với kiến thức, kinh nghiệm và các nguồn hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới để phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các chương trình như Thập kỷ xóa mù chữ, Chương trình giáo dục cho mọi người, thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, ưu tiên về bình đẳng giới… đã đưa UNESCO đến gần với cuộc sống thường nhật của người dân, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, vật chất và tinh thần cho nhiều gia đình, địa phương và cộng đồng dân cư.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng cho rằng, Ủy ban UNESCO Việt Nam đã phát huy xuất sắc vai trò là cầu nối lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới, qua đó nâng cao vai trò, vị thế và sức mạnh mềm của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh yêu cầu, Ủy ban quốc gia UNESO, các Bộ, ngành, các tiểu ban chuyên môn và Ban thư ký, bám sát chủ trương của Đại hội XII của Đảng; tiếp tục tiếp thu, tận dụng ý tưởng, tri thức, kinh nghiệm, nguồn lực của UNESCO để đóng góp hiệu quả hơn nữa vào quá trình phát triển bền vững của đất nước. Đổi mới nếp nghĩ, cách làm, chuyên từ tham gia sang tư duy chủ động, tích cực đóng góp vào hoạch định và triển khai các chiến lược phát triển của UNESCO. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, từng bước tăng số lượng cán bộ của Việt Nam làm việc tại UNESCO, kể cả các vị trí lãnh đạo cao nhất của UNESCO./.


(Nguồn: Hồng Hà – Báo Điện tử Bộ VHTTDL)